Tạo mới

Xicloankan

Xicloankan là hydrocacbon no, mạch vòng, trong phân tử chỉ có liên kết đơn. CTTQ : CnH2n , n≥3 nguyên.

Xicloankan có đầy đủ tính chất của một hydrocacbon no (vòng C5 trở lên), ngoài ra còn có tính chất của vòng:các vòng nhỏ có sức căng lớn, kém bền, dễ tham gia phản ứng cộng mở vòng (vòng C3, C4)

Xem chi tiết

Xi măng

Thành phần hoá học và cách sản xuất xi măng.

a.  Xi măng thuộc loại vất liệu kết dính Quan trọng và thông dụng nhất là xi măng Pooclăng: là chất bột mịn, màu lục xám, gồm canxi silicat và canxi aluminat: Ca3SiO5 (hoặc3CaO.SiO2), Ca2SiO4 (hoặc 2CaO.SiO2), Ca3(AlO3)2 (hoặc 3CaO.Al2O3).

b.   Xi măng Pooclăng được sản xuất bằng cách nghiền  nhỏ  đá vôi, trộn với đất sét thành dạng bùn,  rồi nung hỗn hợp trong lò quay hoặc đứng ở 1300  - 14000C, thu được một  hỗn hợp  màu  xám  gọi là clanhke. Để nguội, rồi nghiền clanhke với một số chất phụ gia  thành bột mịn, sẽ được xi măng.

Xem chi tiết

Xeton

Xeton (viết theo tiếng Pháp Cétone) là một hợp chất hữu cơ, trong đó nhóm cacbonyl C=O liên kết trực tiếp với 2 gốc hydrocarbon. Công thức tổng quát R-CO-R'.

Xeton đơn giản nhất là acetone CH3-CO-CH3

Xem chi tiết

Xenlulozo

Xen-lu-lô (bắt nguồn từ tiếng Pháp: cellulose), còn gọi là xenlulôzơ, xenlulôza, là hợp chất cao phân tử được cấu tạo từ các liên kết các mắt xích β-D-Glucose, có công thức cấu tạo là (C6H10O5)n hay [C6H7O2(OH)3]n trong đó n có thể nằm trong khoảng 5000-14000, là thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật. Trong gỗ lá kim, cellulose chiếm khoảng 41-49%, trong gỗ lá rộng nó chiếm 43-52% thể tích.

 

Xem chi tiết

Xà phòng

Xà phòng thường dùng là hỗn hợp muối natri hoặc muối kali của axit béo, có thêm một số chất phụ gia nữa. Công thức hóa học của xà phòng là muối natri panmitat (C15H31COONa) hoặc natri stearat (C17H35COONa). Xà phòng có ưu điểm là không gây hại cho da, cho môi trường vì chúng dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật có trong thiên nhiên.

Xem chi tiết

Vôi sống

Vôi sống hay còn gọi là Canxi oxit là một hợp chất hóa học với công thức là CaO. 

Vôi sống CaO là một chất có dạng tinh thể rắn dạng bột hoặc vón cục màu trắng. 

Các loại hóa chất được sử dụng khá phổ biến trong công nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau như dùng trong các ngành phân bón, thuốc thú y, thủy sản, chăn nuôi, xử lý nước ở các ao hồ nuôi tôm, nuôi cá, … 

Xem chi tiết

Vật thể

Định nghĩa vật thể do một hay nhiều chất tạo nên

Phân loại: Có 2 loại vật thể là Vật thể tự nhiên và Vật thể nhân tạo.

Vật thể tự nhiên là những vật thể có sẵn trong tự nhiên, ví dụ: không khí, nước, cây mía, …

Vật thể nhân tạo do con người tạo ra, ví dụ: quyển vở, quyển SGK, cái ấm, cái xe đạp …

 

Xem chi tiết

Vật liệu compozit

Vật liệu compozit là vật liệu hỗn hợp gồm ít nhất 2 thành phần phân tán vào nhau mà không hoà tan vào nhau.

Xem chi tiết

Tốc độ phản ứng hóa học

Khái niệm về tốc độ phản ứng

Để so sánh mức độ xảy ra nhanh hay chậm của các phản ứng hóa học, người ta dùng đại lượng tốc độ phản ứng hóa học, gọi tắt là tốc độ phản ứng.

- Tốc độ phản ứng là đại lượng đặc trưng cho độ biến thiên nồng độ của một trong các chất phản ứng hoặc sản phẩm ứng trong một đơn vị thời gian,

- Theo quy ước:   + Nồng độ được tính bằng mol/l

                           +Thời gian: giây (s), phút (ph), giờ (h)…

Xem chi tiết

Tốc độ phản ứng

Tốc độ phản ứng là độ biến thiên nồng độ của một trong các chất phản ứng hoặc sản phẩm trong một đơn vị thời gian.

Xem chi tiết

Tơ tổng hợp

Tơ tổng hợp là tơ được chế tạo từ polime tổng hợp: tơpoliamit, vinylic.

Xem chi tiết

Tơ bán tổng hợp

Tơ bán tổng hợp (tơ nhân tạo) được chế tạo từ polime thiên nhiên như tơ visco, xenlulozơ axetat.

Xem chi tiết

Tơ là những vật liệu polime hình sợi dài và mảnh, độ bền nhất định.

Xem chi tiết

Tinh thể phân tử

Tinh thể phân tử cấu tạo từ những phân tử được sắp xếp một cách đều đặn, theo một trật tự nhất định trong không gian, tạo thành một mạng tinh thể. Ở các điểm nút của mạng tinh thể là những phân tử liên kết với nhau bằng lực tương tác yếu giữa các phân tử.

VD: Mạng tinh thể của phân tử I2

Phân tử iot là phân tử hai nguyên tử, các phân tử iot nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lập phương, gọi là tinh thể lập phương tâm diện.

Tinh thể phân tử iot không bền, iot có thể chuyển thẳng từ thể rắn sang thể hơi (sự thăng hoa).

Xem chi tiết

Tinh thể nguyên tử

Tinh thể nguyên tử cấu tạo từ những nguyên tử được sắp xếp một cách đều đặn, theo một trật tự nhất định trong không gian tạo thành mạng tinh thể. Ở các nút của mạng tinh thể là những nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết cộng hóa trị.

VD: Mạng tinh thể kim cương của cacbon

Mạng tinh thể kim cương được tạo bởi các nguyên tử cacbon.Trong tinh hể kim cương, mỗi nguyên tử cacbon ở trạng thái lai hóa  sp3  liên kết cộng hóa trị với bốn nguyên tử cacbon gần nhất nằm ở bốn đỉnh của một tứ diện đều bằng bốn cặp electron  chung. Mỗi nguyên tử cacbon ở đỉnh lại liên kết với các nguyên tử cacbon khác. Khoảng cách giưa hai nguyên tử cacbon cạnh nhau trong mạng tinh thể kim cương là  0,154nm, gần với độ dài liên kết đơn  C−C  trong phân tử hiđrocacbon no.

Xem chi tiết

Tinh thể

Tinh thể là những vật thể cấu tạo bởi các nguyên tử, ion, hoặc phân tử có ảnh hưởng nhiễu xạ chủ yếu là gián đoạn

Ví dụ: muối ăn, đường, tuyết và một số kim loại là các vật liệu ở dạng tinh thể. Cấu trúc tinh thể là cấu trúc có tính tuần hoàn, gọi là cấu trúc trật tự kéo dài. Cấu trúc và tính chất vật lý của các tinh thể có thể không đối xứng theo các hướng trong không gian.

Các vật thể rắn trong thiên nhiên hầu hết đều có cấu trúc tinh thế. Thể khí, thể lỏng và các vật chất phi tinh thể (như chất rắn vô định hình) trong một số điều kiện thích hợp cũng có thể chuyển biến thành tinh thể (ví dụ tinh thể lỏng).

Tinh thể hình thành nhờ quá trình kết tinh.

Xem chi tiết

Tính chất của Phi kim

+ Vật lý

– Hầu hết các phi kim đều không có khả năng dẫn điện, và ở các điều kiện thường thì hầu hết các phi kim đều tồn tại ở trạng thái chất lỏng (Br), rắn (C,S,P…) hay khí (Cl2, O2, H2 …). Đặc biệt hơn nữa, hầu hết các phi kim đều có nhiệt độ nóng chảy thấp và có chứa rất nhiều độc tố nguy hiểm như Clo hay Brom.

+ Hoá học

– Khi tác dụng với Hidro thì các phi kim sẽ tạo ra một loại hợp chất khí.

Phương trình: H2+Cl2→2HCl (khí)
H2+Br2→2HBr

– Khi tác dụng với kim loại ( đây là tính chất đặc trưng nhất của Phi kim). Hầu hết các phi kim khi tác dụng với kim loại sẽ tạo ra muối. Tuy nhiên, khi oxi tác dụng với kim loại sẽ tạo thành các oxit. Và các oxit này được gọi là oxit.

Phương trình: 2Na+Cl2→2NaCl

– Khi tác dụng với các phi kim khác sẽ tạo ra oxit axit

Phương trình: S+O2→SO2
C+O2→CO2

 

Xem chi tiết

Tinh bột

 

Tinh bột tiếng Hy Lạp là amidon, công thức hóa học: (C6H10O5)n là một polysacarit carbohydrate chứa hỗn hợp amyloza và amylopectin, tỷ lệ phần trăm amilose và amilopectin thay đổi tùy thuộc vào từng loại tinh bột, tỷ lệ này thường từ 20:80 đến 30:70. Tinh bột có nguồn gốc từ các loại cây khác nhau có tính chất vật lý và thành phần hóa học khác nhau. Chúng đều là các polymer cacbohydrat phức tạp của glucose (công thức phân tử là C6H12O6). Tinh bột được thực vật tạo ra trong tự nhiên trong các quả, củ như: ngũ cốc. Tinh bột, cùng với protein và chất béo là một thành phần quan trọng bậc nhất trong chế độ dinh dưỡng của loài người cũng như nhiều loài động vật khác. Ngoài sử dụng làm thực phẩm ra, tinh bột còn được dùng trong công nghiệp sản xuất giấy, rượu, băng bó xương. Tinh bột được tách ra từ hạt như ngô và lúa mì, từ rễ và củ như sắn, khoai tây, dong là những loại tinh bột chính dùng trong công nghiệp.

Xem chi tiết

Tỉ khối hơi của chất A so với chất B

Tỉ khối là so sánh khối lượng, nghĩa là muốn biết chất nào nặng hơn, chất nào nhẹ hơn và nặng hay nhẹ hơn bao nhiêu lần. Tỉ khối hơi của chất A so với chất B nghĩa là muốn biết ở dạng hơi (hay khí) thì hơi A nặng hay nhẹ hơn hơi (khí) B bao nhiêu lần. Mà muốn so sánh khối lượng giữa A và B thì phải là lấy hai khối lượng của A và B của cùng một thể tích bằng nhau. Sau đó lấy khối lượng của A đem chia cho khối lượng của B (hai khối lượng của cùng thể tích, thể tích A bằng thể tích B), nếu kết quả phép chia > 1, tức là A nặng hơn B, còn nếu kết quả phép chia < 1, thì A nhẹ hơn B, còn nếu tỉ số khối lượng này bằng 1, tức là A, B nặng nhẹ bằng nhau.

      Theo hệ quả của định luật Avogadro, trong cùng một điều kiện về nhiệt độ và áp suất thì 1 mol bất kỳ khí hay hơi nào cũng đều chiếm thể tích bằng nhau (nếu là điều kiện tiêu chuẩn thì 1 mol mọi khí đều chiếm thể tích bằng nhau là 22,4 lít). Mà 1 mol A có khối lượng là MA gam, còn 1 mol B có khối lượng là MB gam. Do đó tỉ khối hơi của A so với B, ký hiệu dA/B được tính như sau:

dA/B = MA/MB

     MA, MB là khối lượng (gam) của 1 mol A, 1 mol B, khối lượng của cùng một thể tích bằng nhau (bằng 22,4 lít, nếu là đktc)

     dA/B > 1 => hơi (khí) A nặng hơn hơi (khí) B

     dA/B  < 1 => hơi A nhẹ hơn hơi B

     dA/B = 1 => hơi A và B nặng bằng nhau

      Thí dụ:  dCH4/H2 = MCH4/MH2 = 16/2 = 8

      Như vậy, tỉ khối của khí metan so với khí hydrogen bằng 8. Nghĩa là khí metan nặng hơn khí hydrogen 8 lần. Hai thể tích bằng nhau của khí metan và khí hydrogen, khí hydrogen chiếm 1 phần khối lượng thì khí metan chiếm 8 phần khối lượng.

       Trung bình 1 mol không khí có khối lượng 29 gam, nên tỉ khối hơi của chất A so với không khí được tính nhu sau:

dA/KK  = MA/MKK = MA/29

      Thí dụ: Tỉ khối của khí axetien (C2H2) so với không khí

                  dC2H2/KK = MC2H2/MKK = 26/29 = 0,896  

=> axetilen nhẹ hơn không khí 0,896 lần

 

Xem chi tiết

Tỉ khối của một chất rắn, chất lỏng hay dung dịch (lỏng)

Khi nói tỉ khối của một chất rắn, chất lỏng hay của một dung dịch (dung dịch lỏng) thì hiểu là so sánh khối lượng của chất rắn, chất lỏng hay dung dịch đó với nước (dạng lỏng) nhằm biết chất đó nặng hay nhẹ hơn nước bao nhiêu lần. Muốn vậy người ta lấy khối lượng của vật và khối lượng của nước (khối lượng của hai thể tích bằng nhau của vật và nước), đem so sánh, bên nào có khối lượng lớn hơn thì nặng hơn.

 Tỉ khối hiểu là nặng hay nhẹ hơn bao nhiêu lần nên không có đơn vị. Còn khối lượng riêng là khối lượng của một vị thể tích, nên có đơn vị, như g/mL, kg/L, g/cm3, kg/dm3...Do nước dạng lỏng có khối lượng riêng 1g/mL (hay 1g/cm3 hay 1 kg/L, 1kg/dm3, nghĩa là 1 mL nước có khối lượng 1 gam hay 1 lít nước có khối lượng 1 kg), nên từ tỉ khối của chất rắn, chất lỏng hay dung dịch (không có đơn vị) ta thêm vào đơn vị g/mL hay g/cm3 thì sẽ có trị số khối lượng riêng của chất rắn, chất lỏng hay dung dịch đó.

Thí dụ: Kim loại đồng (Cu) có tỉ khối bằng 8,93 thì hiểu là hai thể tích bằng nhau của đồng (rắn) và nước (lỏng), nước chiếm 1 phần khối lượng thì đồng chiếm 8,93 phần khối lượng, hay đồng nặng hơn nước 8,93 lần. Do 1 mL nước có khối lượng 1 gam nên 1 mL đồng có khối lượng 8,93 gam. Như vậy đồng có khối lượng riêng là 8,93 g/mL (hay 8,93 g/cm3 hay 8,93 kg/dm3)

 Thủy ngân (Hg, lỏng) có tỉ khối 13,55 thì hiểu là thủy ngân nặng hơn nước 13,55 lần. Hai thể tích bằng nhau của thủy ngân và nước, nước chiếm 1 phần khối lượng thì thủy ngân chiếm 13,55 phần khối lượng. Do nước có khối lượng riêng là 1 g.mL nên thủy ngân có khối lượng riêng là 13,55 g/mL

 Etanol (Rượu etylic, C2H5OH, lỏng) có tỉ khối 0,79 (<1) thì hiểu là etanol nhẹ hơn nước. Hai thể tích bằng nhau của etanol và nước, nước chiếm 1 phần khối lượng thì etanol chiếm 0,79 phần khối lượng. Etanol có khối lượng riêng là 0,79 g/mL hay 0,79 g/cm3 hay 0,79 kg/L

 

Xem chi tiết

Thù hình

Thù hình (allotropy) là hiện tượng một nguyên tố hóa học hiện diện ở các dạng đơn chất khác nhau. Các đơn chất khác nhau của một nguyên tố được gọi là các dạng thù hình (allotrope).

Thí dụ: Oxi (O2), ozon (O3), tetraoxi (O4) là ba dạng thù hình của nguyên tố oxi (oxigen, oxygen, O). Photpho trắng, photpho đỏ, photpho đen là ba dạng thù hình của nguyên tố photpho (phosphor, phosphorus, P).

Graphit (than chì), kim cương, mồ hóng (bồ hóng, lọ nghẹ, than vô định hình), fuleren (fullerene, C60) là bốn dạng thù của nguyên tố cacbon (carbon, C). Nguyên tố lưu huỳnh (sulphur, S) có nhiều dạng thù hình nhất, khoảng 30 dạng thù hình, như S8; S7; S6; S12; S18; ...

Xem chi tiết

Than hoạt tính

Than hoạt tính là một dạng của carbon được xử lý để có những lỗ rỗng bé thể tích nhỏ để tăng diện tích bề mặt cho dễ hấp phụ hoặc tăng cường phản ứng hóa học. Do mức độ vi mao quản cao, chỉ một gam than hoạt tính có diện tích bề mặt vượt quá 800 - 1000 m2, được xác định bởi phương pháp hấp phụ khí. Một mức độ hoạt hóa đủ cho ứng dụng có ích có thể đạt được duy nhất từ diện tích bề mặt cao, hơn nữa, sự xử lý hóa học thường làm tăng tính chất hấp phụ. Than hoạt tính thường thu từ than củi và thỉnh thoảng là than sinh học. Những loại thu được từ than đá hay cốc thì được gọi là than đá hoạt tính hoặc cốc hoạt tính.

Về mặt hóa học gồm chủ yếu là nguyên tố carbon ở dạng vô định hình (bột), một phần nữa có dạng tinh thể vụn grafit. Ngoài carbon thì phần còn lại thường là tàn tro, mà chủ yếu là các kim loại kiềm và vụn cát). Than hoạt tính có diện tích bề mặt ngoài rất lớn nên được ứng dụng như một chất lý tưởng để lọc hút nhiều loại hóa chất.

Ứng dụng

Than hoạt tính được sử dụng trong tinh chế khí, thức uống không chứa caffein, tinh chế quặng vàng, chiết kim loại, làm tinh khiết nước, y tế, xử lý chất thải, lọc không khí trong mặt nạ phòng độc và khẩu trang.

Ứng dụng công nghiệp

Một ứng dụng công nghiệp chính là xử lý kim loại cuối. Nó được sử dụng rộng rãi trong tinh chế dung dịch mạ điện. Ví dụ, nó là kỹ thuật tinh chế chính trong việc loại bỏ những tạp chất hữu cơ từ dung dịch mạ kền sáng. Nhiều chất hữu cơ đựoc thêm vào dung dịch mạ để cải thiện tính bám dính và tăng tính chất như độ sáng, nhẵn, tính uốn v.v... Sự truyền dòng điện trực tiếp và phản ứng điện hóa của oxi hóa anot và khử catot, những phụ gia hữu cơ sinh ra những sản phẩm phân hủy không mong muốn trong dung dịch. Sự sinh ra quá nhiều của chúng có thể có hại cho chất lượng mạ và tính chất vật lý của kim loại. Sự xử lý bằng than hoạt tính loại bỏ những tạp chất như vậy và trả lại hiệu suất mạ về mức độ mong muốn.

Ứng dụng y tế

Than hoạt tính được sử dụng để xử lý chất độc và sự dùng quá liệu qua đường miệng. Những viên hoặc nang than hoạt tính được sử dụng ở nhiều nước như một thuốc không cần kê toa bác sĩ để xử lý bệnh tiêu chảy, chứng khó tiêu và đầy hơi.

Tuy nhiên, nó không hiệu quả cho nhiều sự ngộ độc của acid hoặc kiềm mạnh, xianua, sắt, liti, arsen, methanol, ethanol hay ethylene glycol.

Ứng dụng gián tiếp (ví dụ cho vào phổi) dẫn đến sặc hệ hô hấp, có thể gây chết người nếu không đựoc xử lý y tế ngay lập tức.

Ứng dụng hóa phân tích

Than hoạt tính, hỗn hợp 50/50 khối lượng diatomit và than hoạt tính đựoc sử dụng như pha tĩnh trong sắc khí áp suất thấp cho carbohydrate sử dụng dung dịch rượu (5-50%) như pha động trong đinh chuẩn chuẩn bị và phân tích.

Ứng dụng môi trường

Sự hấp phụ cacbon có nhiều ứng dụng trong loại bỏ chất gây ô nhiễm từ không khí hay nước như:

  • Làm sạch dầu tràn
  • Lọc nước ngầm
  • Lọc nước uống
  • Làm sạch không khí
  • Giữ tạp chất hữu cơ không bay hơi từ màu vẽ, lọc khô, bay hơi xăng và những quá trình khác.

Trong suốt đầu sự bổ sung của Luật nước uống an toàn 1974 ở Mỹ, EPA đã phát triển một điều luật đề xuất yêu cầu những hệ thống xử lý nước uống sử dụng than hoạt tính dạng hạt. Nhưng do giá quá cao, điều luật gọi là luật GAC gặp những phản đối mạnh mẽ trong cả nước từ công nghiệp cung cấp nước, bao gồm nhà máy nước lớn nhất ở California, nên luật đã bị bãi bỏ.

Than hoạt tính cũng được dùng để đo nồng độ Radon trong không khí.

  • Trong y tế (Carbo medicinalis – than dược): để tẩy trùng và các độc tố sau khi bị ngộ độc thức ăn...
  • Trong kỹ thuật, than hoạt tính là một thành phần lọc khí (trong đầu lọc thuốc lá, miếng hoạt tính trong khẩu trang); tấm khử mùi trong tủ lạnh và máy điều hòa nhiệt độ...
  • Trong xử lý nước (hoặc lọc nước trong gia đình): để tẩy các chất bẩn vi lượng, diệt khuẩn và khử mùi....v.v.v.
  • Tác dụng tốt trong phòng tránh tác hại của tia đất.

 

Xem chi tiết

Tecpen

Tecpen là tên gọi nhóm hiđrocacbon không no thường có công thức chung là (C5H8)n(n≥2), thường gặp trong giới thực vật. Tecpen có nhiều trong tinh dầu thảo mộc như tinh dầu thông, sả, quế, chanh, cam,...

Xem chi tiết

Sự lai hóa obitan nguyên tử

Sự lai hóa obitan nguyên tử là sự tổ hợp  "trộn lẫn"  một số obitan trong một nguyên tử để được từng ấy obitan lai hóa giống nhau nhưng định hướng khác nhau trong không gian.

Nguyên nhân của sự lai hóa là các obitan hóa trị ở các phân lớp khác nhau có năng lượng và hình dạng khác nhau cần phải đồng nhất để tạo được liên kết bền với các nguyên tử khác.

Xem chi tiết

Sự chuyển dịch cân bằng hóa học

Sự chuyển dịch cân bằng hóa học là sự phá vỡ trạng thái cân bằng cũ để chuyển sang một trạng thái cân bằng mới do các yếu tố bên ngoài tác động lên cân bằng.

Xem chi tiết

Sự biến đổi độ âm điện

- Sự biến đổi tuần hoàn về cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi về tính chất của các nguyên tố.

- Độ âm điện của một nguyên tử càng lớn thì tính phi kim của nó càng mạnh và ngược lại.

- Trong chu kì theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân giá trị độ âm điện tăng dần.

-Trong nhóm A theo chiều tăng dần của diện tích hạt nhân, giá trị độ âm điện giảm dần.

- Sự biến đổi giá trị độ âm điện và tính kim loại, tính phi kim phù hợp với nhau.

- Độ âm điện của một nguyên tố càng lớn thì tính phi kim càng mạnh, tính kim loại càng giảm và ngược lại.

 

Xem chi tiết

Styren

Styren hay vinyl benzene hoặc phenyl ethene là một hợp chất hữu cơ có công thức hóa học C6H5CH=CH2. Đây là chất lỏng gốc benzen không màu, nhẹ hơn nước, không tan trong nước, dễ bay hơi và có vị hơi ngọt tuy nhiên khi đậm đặc thì có mùi khó chịu.

Styren là chất được dùng để sản xuất polystyren và nhiều polyme khác. Có khoảng 25 triệu tấn styren được sản xuất trong năm 2010.

Styren được sử dụng trong xốp và góp phần làm phát triển ung thư, giảm thị lực, thính giác và gây tổn thương hệ thần kinh.

Xem chi tiết

Số hiệu nguyên tử

Số đơn vị điện tích hạt nhân nguyên tử của 1 nguyên tố được gọi là số hiệu nguyên tử  của nguyên  tố đó (Z).

Kí hiệu nguyên tử

Số khối: Công thức: A=Z+N

Trong đó: A là số khối, Z số hạt proton hay số hiệu nguyên tử , N số hạt nơtron

Ví dụ :  

Cho biết nguyên tử của nguyên tố natri (Na) có Z=11, 11p, 11e và 12n (23-11=12)

Ví dụ: Hạt nhân nguyên tử Liti có 3 proton và 4 nơtron

ALiti=3+4=7

Xem chi tiết

Silic đioxit

Silic đioxit (SiO2) là chất dạng tinh thể, nhiệt độ nóng chảy cao, không tan trong nước nhưng tan chậm trong kiềm đặc và HF.

Xem chi tiết

Quỳ tím (giấy quỳ)

Quỳ tím (giấy quỳ) là giấy có tẩm dung dịch etanol hoặc nước với chất màu tách từ rễ cây địa y (ngành thực vật cộng sinh giữa tảo và nấm) Roccella và Dendrographa; có màu gốc ban đầu là màu tím, được sử dụng trong ngành hóa học để thử, kiểm nghiệm độ pH.

Xem chi tiết

Quy tắc loại Zaixep (Zaisev)

Quy tắc loại Zaixep (Zaisev)

Trong phản ứng tách H2O khỏi rượu (hay tách HX khỏi dẫn xuất halogen RX), nhóm – OH (hay – X) ưu tiên tách ra cùng với nguyên tử H của cacbon kế cận hơn.

Xem chi tiết

Quy tắc cộng Maccopnhicop (Markovnikov)

Quy tắc cộng Maccopnhicop (Markovnikov)

Khi cộng một tác nhân không đối xứng (HX, HOH ...) vào một anken (hay ankin) không đối xứng, phản ứng xảy ra theo hướng:

- Phần dương (+) của tác nhân sẽ liên kết với cacbon có nhiều hiđro hơn.

- Phần âm ( – ) của tác nhân sẽ liên kết với cacbon ít hiđro hơn của liên kết đôi hay liên kết ba.

Xem chi tiết

Quặng sắt

Quặng sắt là các loại đá và khoáng vật mà từ đó sắt kim loại có thể được chiết ra có hiệu quả kinh tế. Quặng sắt thường giàu các sắt oxit và có màu sắc từ xám sẫm, vàng tươi, tía sẫm tới nâu đỏ. Sắt thường được tìm thấy dưới dạng magnetit (Fe3O4, 72,4% Fe), hematit (Fe2O3, 69,9% Fe), goethit (FeO(OH), 62,9% Fe), limonit (FeO(OH)•n(H2O), 55% Fe) hay siderit (FeCO3, 48,2% Fe).

Xem chi tiết

Proton

Proton (ký hiệu p hay H+) là 1 loại hạt tổ hợp, hạt hạ nguyên tử và là 1 trong 2 loại hạt chính cấu tạo nên hạt nhân của nguyên tử (hạt còn lại là neutron). Trong nguyên tử trung hòa về điện tích, số lượng hạt proton trong hạt nhân đúng bằng số lượng hạt electron của lớp vỏ nguyên tử.

Số proton trong nguyên tử của 1 nguyên tố đúng bằng điện tích hạt nhân của nguyên tố đó, và được chọn làm cơ sở để xây dựng bảng tuần hoàn.

Xem chi tiết

Protein

Protein hay còn gọi là chất đạm, là những phân tử sinh học hay đại phân tử, chứa một hoặc nhiều mạch các acid amin, liên kết với nhau bởi liên kết peptid. Các protein khác nhau chủ yếu do về trình tự các acid amin khác nhau, trình tự này do các nucleotide của gen quy định.Trong tự nhiên có khoảng 20 acid amin, trong đó có 9 acid amin thiết yếu cơ thể không tự tạo ra được mà phải cung cấp từ bên ngoài, số còn lại gọi là acid amin không thiết yếu vì cơ thể có thể tự tổng hợp được.

Mỗi loại protein sau khi được tạo ra, chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, có loại chỉ tồn tại vài phút, có loại có thể tồn tại hàng năm. Sau đó, protein bị thoái hóa và được tái sinh bởi bộ máy tế bào thông qua quá trình luân chuyển protein. Do protein chiếm tới 50% khối lượng thô của tế bào, là thành phần thiết yếu cấu trúc, hình thành, duy trì, tái tạo cơ thể nên cơ thể cần bổ sung protein qua chế độ ăn hàng ngày. Nếu cơ thể thiếu protein sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như suy dinh dưỡng, chậm lớn, hay ốm đau, bệnh tật do sức đề kháng giảm.

Xem chi tiết

Polyme

Polyme (tiếng Anh: "polymer") là khái niệm được dùng cho các hợp chất giàu phân tử (hợp chất có khối lượng phân tử lớn và trong cấu trúc của chúng có sự lặp đi lặp lại nhiều lần những mắt xích cơ bản). Các phân tử tương tự nhưng có khối lượng thấp hơn được gọi là các oligome.

Polyme được sử dụng phổ biến trong thực tế với tên gọi là nhựa, nhưng polyme bao gồm 2 lớp chính là polyme thiên nhiên và polyme nhân tạo. Các polyme hữu cơ như protein (ví dụ như tóc, da, và một phần của xương) và axít nucleic đóng vai trò chủ yếu trong quá trình tổng hợp polyme hữu cơ. Có rất nhiều dạng polyme thiên nhiên tồn tại chẳng hạn xenlulo (thành phần chính của gỗ và giấy).

Xem chi tiết

Polybutadiene

Polybutadiene [butadiene rubber, viết tắt BR] là một loại cao su tổng hợp . Cao su polybutadiene là một polymer được hình thành từ sự trùng hợp của monome 1,3-butadiene . Polybutadiene có khả năng chống mòn cao, chịu uốn gấp tốt, biến dạng " trễ" ít, nhiệt nội sinh thấp và được sử dụng đặc biệt trong sản xuất lốp xe, tiêu thụ khoảng 70% sản lượng. 25% khác được sử dụng làm phụ gia để cải thiện độ dẻo dai (khả năng chống va đập) của nhựa như polystyrene và acrylonitrile butadiene styrene (ABS).

Xem chi tiết

Polime

Polime là những hợp chất có phân tử khối rất lớn do nhiều đơn vị cơ sở (gọi là mắt xích) liên kết với nhau tạo nên. Vd: polietilen: (CH2 - CH2)n, xenlulozơ: (C6H10O5)n

Xem chi tiết

Phương pháp bảo vệ điện hóa

Phương pháp bảo vệ điện hóa là dùng một kim loại làm vật hi sinh để bảo vệ vật liệu kim loại. Thí dụ: để bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép, người ta gắn các lá Zn vào phía ngoài vỏ tàu ở phần chìm trong nước biển (nước biển là dung dịch chất điện li). Phần vỏ tàu bằng thép là cực dương, các lá Zn là cực âm.

Xem chi tiết

Phương pháp bảo vệ bề mặt

Phương pháp bảo vệ bề mặt là phủ lên bề mặt kim loại một lớp sơn, dầu mỡ, chất dẻo hoặc tráng, mạ bằng một kim loại khác. Lớp bảo vệ bề mặt kim loại phải bền vững với môi trường và có cấu tạo đặc khít không cho không khí và nước thấm qua. Nếu lớp bảo vệ bị hư hỏng, kim loại sẽ bị ăn mòn.

Xem chi tiết

Phức chất

Phc cht là nhng hp cht hoá hc mà phân tcó cha ion phc dương hoc âm có khnang tn ti trong dung dch, cung như tn ti trong tinh th, kết hp vi các ion trái du (gi là cu ngoi).

Ví d: [Co(NH3)6]Cl3

Xem chi tiết

Photpho

Phốtpho, (từ tiếng Hy Lạp: phôs có nghĩa là "ánh sáng" và phoros nghĩa là "người/vật mang"), là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu P và số nguyên tử 15. Là một phi kim đa hóa trị trong nhóm nitơ, phốtpho chủ yếu được tìm thấy trong các loại đá phốtphat vô cơ và trong các cơ thể sống. Do độ hoạt động hóa học cao, không bao giờ người ta tìm thấy nó ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Nó phát xạ ra ánh sáng nhạt khi bị phơi ra trước ôxy (vì thế có tên gọi của nó trong tiếng Latinh để chỉ "ngôi sao buổi sáng", từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "ánh sáng" và "mang"), và xuất hiện dưới một số dạng thù hình. Nó cũng là nguyên tố thiết yếu cho các cơ thể sống. Sử dụng quan trọng nhất trong thương mại của nó là để sản xuất phân bón. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các loại vật liệu nổ, diêm, pháo hoa, thuốc trừ sâu, kem đánh răng và chất tẩy rửa.

Xem chi tiết

Phối tử (ký hiệu là L)

Trong ion phức có những ion (anion) hay những phân tử trung hoà liên kết trực tiếp xung quanh, sát ngay nguyên tử trung tâm gọi là phối tử. Những phối tử là anion thường gặp như F-, Cl-, I-, OH-, CN-, SCN-, NO2-, S2O32-, C2O42- ... Những phối tử là phân tử thường gặp như H2O, NH3, Co, NO, pyriđin (C5H5N), etylenđiamin (H2N-CH2-CH2-NH2) ...

Ví d: [HgI4]2- : I- là phối tử

Xem chi tiết

Phi kim

Phi kim là những nguyên tố hóa học dễ nhận electron trừ hiđrô . Phi kim nằm bên phải bảng tuần hoàn. Hầu hết các phi kim không dẫn điện . Phi kim thường tồn tại ở dạng phân tử . Một số nguyên tố có sự biến tính, ví dụ như cacbon graphit có thể dẫn điên. kim cương thì không. Phi kim bao gồm Các khí hiếm, Các halogen , Các phi kim còn lại: ôxy, lưu huỳnh, selen, nitơ, phốtpho, cacbon, hiđro.

Xem chi tiết

Phenol

Phenol là một hợp chất hữu cơ thơm có công thức phân tử C6H5OH. Nó là một chất rắn tinh thể màu trắng dễ bay hơi. Phân tử bao gồm một nhóm phenyl (−C6H5) liên kết với một nhóm hydroxyl (-OH). Hơi có tính axít, nó đòi hỏi phải xử lý cẩn thận vì nó có thể gây bỏng nặng khi rơi vào da. Phenol lần đầu tiên được chiết xuất từ ​​nhựa than đá, nhưng ngày nay được sản xuất trên quy mô lớn (khoảng 7 tỷ kg / năm) từ các nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ. Nó là một mặt hàng công nghiệp quan trọng như là tiền thân của nhiều vật liệu và hợp chất hữu ích. Nó chủ yếu được sử dụng để tổng hợp nhựa và các vật liệu liên quan. Phenol và các dẫn xuất hóa học của nó rất cần thiết để sản xuất polycarbonat, epoxies, Bakelite, nylon, chất tẩy rửa, thuốc diệt cỏ như thuốc diệt cỏ phenoxy và nhiều loại dược phẩm.

Xem chi tiết

Phân vi lượng

Phân vi lượng là loại phân chứa một lượng nhỏ các nguyên tố như: bo, kẽm, mangan,…dưới dạng hợp chất. Nên bón phân vi lượng cùng với phân vô cơ hoặ hữu cơ, tùy thuộc vào từng loại cây và từng loại đất.

Xem chi tiết

Phản ứng trùng ngưng

Phản ứng trùng ngưng là quá trình kết hợp nhiều phân tử nhỏ ( monome) thành phân tử lớn (polime) đồng thời giải phóng những phân tử nhỏ khác vd : H2O.

Xem chi tiết

Phản ứng trùng hợp

Phản ứng trùng hợp là quá trình cộng hợp liên tiếp nhiều phân tử nhỏ (monome) giống nhau hay tương tự nhau thành phân tử lớn (polime).

Xem chi tiết

Phản ứng trao đổi

Phản ứng trao đổi là một loại phản ứng hoá học, trong đó, các chất trao đổi cho nhau thành phần cấu tạo của nó mà không làm thay đổi chỉ số oxi hóa. Từ sự trao đổi này, chúng hình thành nên những chất mới.

Có thể phân loại phản ứng trao đổi theo thành phần các chất tham gia phản ứng.

Phản ứng giữa axit và bazơ

Là phản ứng giữa một axit và một bazơ để tạo ra muối và nước.

  • Phản ứng tổng quát:

Axit + Bazơ → Muối + Nước

  • Ví dụ:

HCl + NaOH → NaCl + H2O

H2SO4 + 2KOH → K2SO4 + 2H2O

Phản ứng giữa axit và muối

  • Phản ứng tổng quát:

Axít + Muối → Axit (mới) + Muối (mới)

Axit mạnh + Muối tan → Axit mới + Muối (mới)

* Điều kiện phản ứng:

Axít phải tan.

Các chất tạo thành phải có ít nhất một chất kết tủa hoặc dễ bay hơi hay dễ phân huỷ, hoặc yếu hơn so với chất tham gia (đối với axít).

* Axit (mới) có thể mạnh hơn Axit cũ nếu muối (mới) là: CuS, HgS, Ag2S, PbS.

  • Ví dụ:

H2SO4 + BaCl2 → BaSO4 (kết tủa) + 2 HCl

2 HNO3 + K2S → KNO3 + 2 H2S (bay hơi)

6 HCl + Cu3(PO4)2 → 3 CuCl2 + 2 H3PO4 (yếu hơn HCl)

Phản ứng giữa bazơ và muối

  • Phản ứng tổng quát:

Bazơ + Muối → Bazơ (mới) + Muối(mới)

  • Thỏa mãn cả hai điều kiện sau:

Muối và bazơ (ban đầu) phải tan.

Một trong 2 sản phẩm có kết tủa.

  • Ví dụ:

2 NaOH + CuSO4 → Na2SO4 + Cu(OH)2 (kết tủa)

Ba(OH)2 + Na2SO4 → BaSO4 (kết tủa) + 2 NaOH

Phản ứng giữa muối và muối

  • Phản ứng tổng quát:

Muối + Muối → Muối (mới) + Muối (mới)

  • Thỏa mãn cả hai Điều kiện sau:

- Hai muối tham gia phản ứng đều tan.

- Sản phẩm có chất kết tủa hoặc có chất khí bay hơi.

  • Ví dụ:

BaCl2 + CuSO4 → BaSO4 (kết tủa) + CuCl2

2 AgNO3 + CuCl2 → 2 AgCl (kết tủa) + Cu(NO3)2

BaS + Na2CO3 → BaCO3 (kết tủa) + Na2S

 

Xem chi tiết

Phản ứng oxi hóa- khử (Oxid hóa - khử)

Phản ứng oxi hóa khử là phản ứng trong đó nguyên tử hay ion này nhường điện tử cho nguyên tử hay ion khác.
Hay: Phản ứng oxi hóa khử là phản ứng trong đó có sự cho, nhận điện tử; Hay: Phản ứng oxi hóa khử là phản ứng trong đó có sự thay đổi số oxi hóa của các nguyên tố.
Thí dụ:

1.

Zn + CuSO4    à   ZnSO+ Cu

               +2         +2            0
Zn 
      Cu2+   à   Zn2+   Cu
2.

Fe       2HCl     à     FeCl2     H2­


             +1                 +2         0
Fe 
        2H+    à     Fe2+ +     H2­
3. 

                            +3 -2
2Al + 
  3/2O2    à      Al2O3

 

Xem chi tiết

Phản ứng hóa học

Phản ứng hóa học là các biến đổi trong cấu trúc của các phân tử. Trong phản ứng hóa học các phân tử liên kết với nhau tạo thành các phân tử lớn hơn hay bị phá vỡ ra thành 2 hay nhiều phân tử nhỏ hơn. Các phản ứng hóa học thường bao hàm việc tạo thành hay phá vỡ các liên kết hóa học.

Xem chi tiết

Phản ứng đốt cháy

Một phản ứng đốt là một loại phản ứng hóa học trong đó một hợp chất và oxy hóa là phản ứng để tạo ra nhiệt và một mới sản phẩm . Dạng chung của phản ứng đốt cháy có thể được biểu thị bằng phản ứng giữa hydrocarbon và oxy, tạo ra carbon dioxide và nước

Xem chi tiết

Phân tử khối

Phân tử khối (PTK) là khối lượng của một phân tử biểu diễn bằng đơn vị cacbon (đ.v.C).

Ví dụ: PTK của H2O = 2 + 16 = 18 đ.v.C, của NaOH = 23 + 16 + 1 = 40 đ.v.C.

Chú ý: Giống như khối lượng nguyên tử, khối lượng phân tử cũng được biểu diễn bằng kg và bằng tổng khối lượng các nguyên tử tạo thành phân tử.

Xem chi tiết

Phân tử

-   Phân tử là phần nhỏ nhất của một chất (chất nguyên chất) mà còn giữ được tính chất (tính chất hóa học) của chất đó.

    Thí dụ:

     Phần nhỏ nhất của nước mà còn giữ được tính chất của nước là một phân tử nước (H2O). Phần nhỏ nhất của đường mà còn giữ được tính chất của đường (đường saccarozơ, saccharose, sucrose) là một phân tử đuờng (C12H22O11).

-    Phân tử có thể gồm một nguyên tử tạo nên, như: He, Ne, Na, Cu, Fe (phân tử đơn nguyên tử). Phân tử có thể gồm nhiều nguyên tử tạo nên, như: CH4, HCl, H2, O3, KMnO4 (phân tử đa nguyên tử).

Xem chi tiết

Phân lớp electron

Phân lớp electron:

-  Các e trên cùng một phân lớp mức năng lượng bằng nhau

-  Các phân lớp được kí  hiệu bằng chữ cái thường : s, p, d, f,...

-  Số phân lớp = số thứ tự của lớp.

Ví dụ:

+ Lớp thứ nhất (lớp K,n=1) có 1 phân lớp :s

+ Lớp thứ hai (lớp L,n=2) có 2 phân lớp : s, p

+ Lớp thứ ba (lớp M,n=3) có 3 phân lớp :s, p, d

+ Lớp thứ tư (lớp N,n=4) có 4 phân lớp: s, p, d, f

-  Các electron ở phân lớp s gọi là electron s, tương tự ep, ed,…

Xem chi tiết

Phân lân nung chảy

Phân lân nung chảy là hỗn hợp photphat và silicat của canxi và magie (chứa 12- 14% P2O5). Các muối này không tan trong nước nên thích hợp cho các loại đất chua.

Xem chi tiết

Phân hỗn hợp

Phân hỗn hợp là loại phân chứa cả 3 nguyên tố N, K, P hay còn gọi là phân NKP. Phân này được tạo ra nhờ trộn cả 3 loại phân đơn trên. Mức độ các loại phân tùy thuộc vào loại đất sử dụng và loại cây trồng sản xuất.

Xem chi tiết

Phân đạm

Phân đạm là một trong những loại phân hóa học khá phổ biến, phân đạm luôn được người dân tin dùng. Phân đạm có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng của cây. Có phân đạm, cây trồng sẽ phát triển nhanh, cho nhiều hạt, củ hoặc quả.

Phân đạm cung cấp Nitơ hóa hợp cho cây trồng dưới dạng ion Nitrat NO3- và ion amoni NH4+. Độ dinh dưỡng của phân đạm được đánh giá bằng hàm lượng % N trong phân. Một số loại phân đạm thường dùng: phân đạm amoni, phân đạm nitrat và ure.

Xem chi tiết

Phân bón hóa học

 Phân bón hóa học hay còn gọi là phân bón vô cơ. Phân hóa học là loại phân bón sản xuất từ  hóa chất hoặc từ các khoáng chất của thiên nhiên. Đây là những hợp chất hóa học chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây nhằm tăng năng suất cây trồng. Phân bón vô cơ có chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần cho cây trồng như: N, K, P, Ca,Mg, B, Cu, Zn,… Từ các thành phần nguyên tố dinh dưỡng riêng biệt, phân hóa học được chia thành 3 loại cơ bản là phân đạm, phân lân, và phân kali.

Xem chi tiết

PHÂN BIỆT KIM LOẠI VÀ PHI KIM

-   

- Kim loại: là tên gọi chung các đơn chất có mặt sáng ánh, dẻo, hầu hết ở thể rắn trong nhiệt độ thường, có tính dẫn nhiệt....
Các kim loại thường gặp:K, Na, Ca, Ba, Mg, Al, Zn, Fe, Ni, Sn, Pb, Cu, Ag, Hg, Pt, Au.....

-  Phi kim: là tên gọi các nguyên tố không có thuộc tính của kim loại.
Các phi kim thường gặp:C, O, H, S, P, N, Cl, Br, I, F......
Phần chính trong định nghĩa này các bạn cần phải nhớ các nguyên tố kim loại và phi kim thường gặp đã nêu trên.

Xem chi tiết

pH

pH là chỉ số đo độ hoạt động (hoạt độ) của các ion HO (H+) trong dung dịch và vì vậy là độ axít hay bazơ của nó. Trong các hệ dung dịch nước, hoạt độ của ion hiđrô được quyết định bởi hằng số điện ly của nước (Kw) = 1,008 × 10−14 ở 25 °C) và tương tác với các ion khác có trong dung dịch. Do hằng số điện ly này nên một dung dịch trung hòa (hoạt độ của các ion hiđrô cân bằng với hoạt độ của các ion hiđrôxít) có pH xấp xỉ 7. Các dung dịch nước có giá trị pH nhỏ hơn 7 được coi là có tính axít, trong khi các giá trị pH lớn hơn 7 được coi là có tính kiềm.

Xem chi tiết

Peptit

Peptit là loại hợp chất chứa từ 2 đến 50 gốc α-amino axit liên kết với nhau bởi các liên kết peptit.

Liên kết peptit là liên kết –CO-NH- giữa hai đơn vị α-amino axit. Nhóm -CO-NH- giữa 2 đơn vị α-amino axit được gọi là nhóm peptit.

Xem chi tiết

Oxit bazơ

Oxit bazơ là hợp chất gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại kết hợp với một hay nhiều nguyên tử oxi và có bazơ tương ứng. Các oxit bazơ tan được trong nước gồm các kim loại kiềm (Li, Na, K,...) và kim loại kiềm thổ (Mg, Ca, Ba,...) trừ Be.

Xem chi tiết

Oxit axit

Oxit axit là các oxit khi kết hợp với nước tạo ra axit, hoặc khi kết hợp với kiềm tạo thành muối hóa học. Oxit axit có thể là oxit của phi kim hoặc kim loại có hóa trị cao.

Xem chi tiết

Oxi lưỡng tính

Những oxit kim loại có khả năng tạo muối khi tác dụng với axit (hoặc oxit axit) cũng như khi tác dụng với bazơ (hoặc oxit bazơ) gọi là oxit lưỡng tính.

Thường gặp là các oxit: ZnO, Al2O3, Fe2O3, Cr2O3, SnO, PbO, SnO2, PbO2, MnO2,…

Ví dụ: Al2O3 + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2O

Al2O3 + 6NaOH + 3H2O → 2Na3[Al(OH)6]

Xem chi tiết

Nước Javel

Nước Javel có tên hóa học là Natri hypoclorit (công thức hóa học là NaClO) - Dung dịch natri hypoclorit được biết đến từ năm 1789 bởi Claude Louis Berthollet. Nước Javel là kết quả của việc hỗn hợp khí sục Cl2 dư vào dung dịch NaOH.

Muối NaClO được tạo thành từ phản ứng hóa học trên dễ tác dụng với CO2 trong không khí tạo ra axit hipoclorơ có tính oxi hóa mạnh cho nên nó là sự lựa chọn tối ưu cho việc tẩy rửa hoặc sát trùng.

Xem chi tiết

Nước cứng

1. Khái niệm

-  Nước cứng là nước chứa nhiều cation Ca2+ và Mg2+

-  Nước mềm là nước chứa ít hoặc không chứa cation Ca2+ và Mg2+

2. Phân loại

- Dựa vào đặc anion trong nước cứng ta chia 3 loại: 
a. Nước cứng tạm thời là nước cứng chứa ion HCO3- ( dạng muối Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2 )
- Nước cứng tạm thời đun nóng sẽ làm mất tính cứng của nước
b. Nước cứng vĩnh cửu là nước cứng chứa ion Cl-, SO42- ( dạng muối CaCl2, MgCl2, CaSO4, và MgSO4)
- Nước cứng vĩnh cửu đun nóng sẽ không làm mất tính cứng của nước

c. Nước cứng toàn phần là nước cứng chứa cả anion HCO3- lẫn Cl-, SO42-. - nước cứng toàn phần đun nóng sẽ làm giảm tính cứng của nước 

3. Tác hại

-  Làm hỏng các thiết bị nồi hơi, ống dẫn nước

-  Làm giảm mùi vị thức ăn

-  Làm mất tác dụng của xà phòng 

4. Phương pháp làm mềm

a. Phương pháp kết tủa.

-   Đối với mọi loại nước cứng ta dùng Na2CO3 hoặc Na3PO4 để làm mềm nước

M2+ + CO32- → MCO3

2M2+ + 2PO43- → M3(PO4)2

-  Đối với nước cứng tạm thời, ngoài phương pháp dùng Na2CO3, Na3PO4 ta có thể dùng thêm NaOH hoặc Ca(OH)2 vừa đủ, hoặc là đun nóng.

+ Dùng NaOH vừa đủ.

Ca(HCO3)2 + 2NaOH → CaCO3↓ + Na2CO3 + 2H2O

Mg(HCO3)2 + 2NaOH → MgCO3↓ + Na2CO3 + 2H2O

+ Dùng Ca(OH)2 vừa đủ

Ca(HCO3)2 + Ca(OH)2 → 2CaCO3↓ + 2H2O

Mg(HCO3)2 + Ca(OH)2 → MgCO3↓ +  CaCO3↓ + 2H2O

+ Đun sôi nước, để phân hủy Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2 tạo thành muối cacbonat không tan. Để lắng gạn bỏ kể tủa được nước mềm. 

Xem chi tiết

Nước

Nước (H2O) là một hợp chất hóa học của oxy và hidro. Có công thức hóa học là H2O. Với các tính chất lý hóa đặc biệt (Ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết Hidrô và tính bất thường của khối lượng riêng). Chúng là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống.

Xem chi tiết

Nồng độ mol

Nồng độ mol thể tích (nồng độ phân tử gam), ký hiệu M, biểu thị số mol của một chất tan cho trước trong 1 lít dung dịch.

Ví dụ: 4,0 lít dung dịch chứa 2,0 mol hạt tan tạo thành dung dịch 0,5 M, còn gọi là 0,5 phân tử gam.

Xem chi tiết

Nồng độ

Nồng độ là khái niệm cho biết lượng hóa chất trong một hỗn hợp, thường là dung dịch.

Dung dịch bao gồm chất tan và dung môi. Chất tan càng nhiều trong một lượng dung môi cố định, thì nồng độ càng cao. Nồng độ đạt giá trị cao nhất, ở những điều kiện môi trường nhất định khi dung dịch bão hòa, có nghĩa chất tan không thể hòa tan thêm vào dung dịch.

Nếu chất tan được thêm vào một dung dịch đã bão hoà, nó sẽ không tan nữa mà sẽ xảy ra hiện tượng phân cách pha (tiếng Anh: phase separation), dẫn đến các pha đồng tồn tại hoặc tạo huyền phù (còn gọi là thể vẩn). Điểm bão hoà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ môi trường, bản chất hoá học của dung môi và chất tan.

Nồng độ có thể tăng bằng cách thêm chất tan vào dung dịch, hoặc giảm lượng dung môi, ví dụ bằng cách cho bay hơi có điều kiện. Ngược lại, nồng độ có thể giảm bằng cách tăng thêm dung môi hay giảm chất tan.

Nồng độ có thể được biểu thị định tính hoặc định lượng.

Xem chi tiết

Nơ-tron

Nơ-tron là một hạt hạ nguyên tử, là một trong hai loại hạt cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử. Neutron trung hòa về điện tích và có khối lượng bằng 1,67492716(13) × 10−27 kg. Neutron và proton được gọi là nucleon.

Hạt nhân của hầu hết các nguyên tử gồm có các neutron và proton. Số neutron xác định các đồng vị của một nguyên tố.

 

Xem chi tiết

Nhôm

Nhôm (bắt nguồn từ tiếng Anh: aluminum, phiên âm tiếng Việt: a-luy-mi-nhôm) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Al và số nguyên tử bằng 13. Nguyên tử khối bằng 27 đvC. Khối lượng riêng là 2,7 g/cm3.  Nhiệt độ nóng chảy là 660oC. Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 (sau ôxy và silic), và là kim loại phổ biến nhất trong vỏ Trái Đất. Nhôm chiếm khoảng 8% khối lớp rắn của Trái Đất. Kim loại nhôm hiếm phản ứng hóa học mạnh với các mẫu quặng và có mặt hạn chế trong các môi trường khử cực mạnh. Tuy vậy, nó vẫn được tìm thấy ở dạng hợp chất trong hơn 270 loại khoáng vật khác nhau. Quặng chính chứa nhôm là bô xít.

Xem chi tiết

Nhiên liệu hoá thạch

Nhiên liệu than, dầu mỏ và khí tự nhiên được gọi là nhiên liệu hoá thạch.

Khai thác và sử dụng năng lượng hoá thạch còn là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường và làm thay đổi khí hậu toàn cầu.

Nguồn nhiên liệu, năng lượng nhân tạo thay thế cho nguồn nhiên liệu thiên nhiên như than, dầu mỏ thường gặp là khí metan trong lò biogaz, khí than khô và khí than ướt từ than đá và nước, năng lượng hạt nhân, pin mặt trời, thuỷ điện; năng lượng gió; năng lượng Mặt Trời; năng lượng địa nhiệt; năng lượng thuỷ triều,...

Xem chi tiết

Nhiên liệu

Nhiên liệu là vật chất được sử dụng để giải phóng năng lượng khi cấu trúc vật lý hoặc hóa học bị thay đổi. Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá trình hóa học như cháy hoặc quá trình vật lý, ví dụ phản ứng nhiệt hạch, phản ứng phân hạch. Tính năng quan trọng của nhiên liệu đó là năng lượng có thể được giải phóng khi cần thiết và sự giải phóng năng lượng được kiểm soát để phục vụ mục đích của con người.

Xem chi tiết

Nguyên tử khối (A)

- Nguyên tử khối là khối lượng tương đối của nguyên tử: cho biết khối lượng của nguyên tử đó nặng gấp bao nhiêu lần đơn vị khối lượng nguyên tử.

- Do khối lượng của e quá nhỏ nên nguyên tử khối coi như bằng số khối A.

Nguyên tử khối = mp+mn = A

- Ví dụ: Nguyên tử P có Z=15 và N=16 Nguyên tử khối của P là 31

Xem chi tiết

Nguyên tử khối

Nguyên tử khối (NTK) là khối lượng của một nguyên tử biểu diễn bằng đơn vị cacbon (đ.v.C).

Chú ý: Khác với nguyên tử khối, khối lượng nguyên tử (KLNT) cũng là khối lượng củamột nguyên tử nhưng biểu diễn bằng kg.

Ví dụ: KLNT của hiđro bằng 1.67.10-27kg, củacacbon bằng 1,99.10-26

 

 

Xem chi tiết

Nguyên tử

  Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất chứa một hạt nhân ở trung tâm bao quanh bởi đám mây điện tích âm các electron.

         - Hạt nhân tạo bởi proton(p) và nơtron

         - Trong mỗi nguyên tử : p(+) = e (-)

         - Electron luôn chuyển động quanh hạt nhân và sắp xếp thành từng lớp.

 

 

 

Xem chi tiết

Nguyên tố hóa học

   

Nguyên tố hóa học là loại nguyên tử (thứ nguyên tử) mà các nguyên tử của cùng một nguyên tố hóa học thì có cùng số thứ tự nguyên tử Z (bậc số nguyên tử, số hiệu, số điện tích hạt nhân). Theo thông tin mới nhất, thì hiện nay được biết có 117 nguyên tố học, tức được biết có 117 loại nguyên tử. Tuy nhiên các nguyên tố có Z > 92 là các nguyên tố hóa học nhân tạo, do con người bắn phá các nguyên tố có sẵn mà phát sinh ra nguyên tố mới.

 Thí dụ:

    H2SO4 được tạo bởi 3 nguyên tố hóa học, đó là các nguyên tố hydrogen (loại nguyên tử hydrogen), nguyên tố lưu huỳnh (loại nguyên tử lưu huỳnh) và nguyên tố oxi (loại nguyên tử oxi).

 

Xem chi tiết

natri hydroxit

Natri hiđroxit hay hyđroxit natri (công thức hóa học là NaOH) hay thường được gọi là xút hoặc xút ăn da là một hợp chất vô cơ của natri. Natri hydroxit tạo thành dung dịch bazơ mạnh khi hòa tan trong dung môi như nước. Dung dịch NaOH có tính nhờn, làm bục vải, giấy và ăn mòn da. Nó được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp như giấy, luyện nhôm, dệt nhuộm, xà phòng, chất tẩy rửa, tơ nhân tạo... Sản lượng trên thế giới năm 1998 vào khoảng 45 triệu tấn. Natri hydroxit cũng được sử dụng chủ yếu trong các phòng thí nghiệm, như làm khô các khí hay thuốc thử.

Xem chi tiết

Năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt.

Xem chi tiết

Năng lượng liên kết

Năng lượng liên kết là năng lượng được giải phóng khi hình thành liên kết hoá học từ các nguyên tố cô lập. Năng lượng liên kết được tính bằng kJ/mol và ký hiệu là E1k.

Xem chi tiết

Năng lượng ion hóa

Năng lượng cần thiết để tạo ra cation bằng cách loại bỏ electron từ một nguyên tử trung hòa về điện là năng lượng ion hóa. Nói chung, năng lượng ion hóa thứ n của nguyên tử là năng lượng cần để loại bỏ electron thứ n sau khi n - 1 electron trước đã bị loại bỏ.

Xem chi tiết

Muối clorua

Muối clorua là muối của axít clohiđric (HCl), có công thức hóa học tổng quát là MClx với M là gốc kim loại.

Xem chi tiết

Muối acid

Định nghĩa: Là muối mà còn Hidro trong gốc acid (lớp 9). Là muối mà Hidro trong gốc acid vẫn còn khả năng phân ly ra H+ (lớp 11).

Xem chi tiết

Muối

Trong hóa học, muối là một khái niệm chung dùng để chỉ một hợp chất được tạo bởi phản ứng trung hòa của axít (Trừ muối CsAu). Có hai loại muối khác nhau: Muối trung hoà và muối axit. Muối có công thức hoá học gồm một hay nhiều nguyên tử kim loại (Na,Cu,Al,...) hoặc gốc amoni NH4+ kết hợp với một hay nhiều gốc axit (Cl-,SO42-,PO43-,...). Tuy vậy đó chỉ là với muối trung hoà, đối với muối axit trong hợp chất ngoài việc có cấu tạo trên, nó còn có một hoặc nhiều nguyên tử hidro.

Khi các muối hòa tan trong nước, chúng được gọi là chất điện phân, và có khả năng dẫn điện, một đặc điểm giống với các muối nóng chảy. Hỗn hợp của nhiều ion khác nhau ở dạng hòa tan trong tế bào chất của tế bào, trong máu, nước tiểu, nhựa cây và nước khoáng — thường không tạo nên muối sau khi nước bốc hơi hết. Tuy nhiên, hàm lượng muối trong chúng được tính theo lượng ion có mặt trong đó.

Xem chi tiết

Mưa axit

Mưa axit xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1853. Tuy nhiên đến tận năm 1872, thuật ngữ “mưa axit” mới được Robert Angus Smith đưa ra.

Theo đó, mưa axit là một hiện tượng xảy ra khi ô nhiễm môi trường không khí xảy ra. Theo đó, mưa axit là hiện tượng nước mưa có độ pH dưới 5.6. Ngoài ra, trong nước mưa còn chứa nitơ và lưu huỳnh. Hai thành phần này được tạo ra trong quá trình sử dụng nguyên liệu như than đá, dầu mỏ làm chất đốt.

Mưa axit có 2 loại trạng thái ướt và khô. Trạng thái ướt (lắng đọng ướt) là khi mưa axit của chứa nước. Ngược lại, mưa axit tạo thành bụi, khí, tuyết, sương mù là trạng thái khô (lắng đọng khô).

Nguyên nhân gây mưa axit

Nguyên nhân gây mưa axit có rất nhiều. Mưa axit có thể hình thành do sự phun trào của núi lửa, khói từ các đám cháy…Tuy nhiên, nguyên nhân trực tiếp nhất đến từ con người.

Cụ thể, con người dùng than đá, dầu mỏ là chất đốt. Trong quá trình đốt thì 2 nguyên liệu thiên nhiên này sinh ra một lượng lớn nhiệt và khí thải đó là lưu huỳnh và khí nitơ. Khi 2 loại chất hoá học này được thải vào không khí tạo thành phản ứng hoá học, tạo ra axit sunfuric (H2SO4) và axit nitric(HNO3).

Hai chất này sẽ lưu lại trên các đám mây. Khi trời mưa, H2SOvà HNO3 sẽ hoà tan với nước mưa và làm độ pH trong nước mưa bị giảm. Khi độ pH bị giảm xuống dưới 5.6 thì sẽ tạo nên mưa axit. Do độ pH lớn nên có thể hoà tan các loại bụi kim loại, ôxit chì… khiến nước mưa trở nên độc hại không chỉ đối với con người mà còn đối với vật nuôi, cây cối.

 

 

Xem chi tiết

Mol và lượng chất

Mol là một đơn vị đo lường biểu thị một lượng chất (còn gọi là lượng hóa học). Mol được định nghĩa là số nguyên tử tìm thấy chính xác 0,012 kg (12 gram) carbon-12, trong đó nguyên tử cacbon-12 không liên kết, ở trạng thái nghỉ và trạng thái nền. Số lượng các thực thể trên mỗi mol được gọi là hằng số Avogadro và được xác định một cách thực nghiệm là khoảng 6,022 × 1023 mol−1

Xem chi tiết

Metan

Metan, với công thức hóa học là CH4, là một hydrocacbon nằm trong dãy đồng đẳng ankan. Metan là hydrocacbon đơn giản nhất. Ở điều kiện tiêu chuẩn, mêtan là chất khí không màu, không mùi, không vị. Nó hóa lỏng ở −162 °C, hóa rắn ở −183 °C, và rất dễ cháy. Một mét khối mêtan ở áp suất thường có khối lượng 717 g.

 

Mêtan nguyên chất không mùi, nhưng khi được dùng trong công nghiệp, nó thường được trộn với một lượng nhỏ các hợp chất chứa lưu huỳnh có mùi mạnh như etyl mecaptan để dễ phát hiện trong trường hợp bị rò rỉ.

 

Xem chi tiết

Lưu huỳnh

Lưu huỳnh (hay Sulfur, đọc như "Xun-phua") là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu S và số nguyên tử 16. Nó là một phi kim phổ biến, không mùi, không vị, nhiều hóa trị. Lưu huỳnh, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, nó có thể tìm thấy ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất sulfua và sulfat. Nó là một nguyên tố thiết yếu cho sự sống và được tìm thấy trong hai axit amin. Sử dụng thương mại của nó chủ yếu trong các phân bón nhưng cũng được dùng rộng rãi trong thuốc súng, diêm, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm.

Xem chi tiết

Lipid

Trong sinh học và hóa sinh, lipid là một phân tử sinh học hòa tan trong dung môi không phân cực. Các dung môi không phân cực thường là hydrocacbon được sử dụng để hòa tan các phân tử lipid hydrocarbon tự nhiên khác không (hoặc không dễ dàng) hòa tan trong nước, bao gồm axit béo, sáp, sterol, vitamin tan trong chất béo (như vitamin A, D, E và K), monoglyceride, diglyceride, triglyceride và phospholipids.

Các chức năng của lipid bao gồm lưu trữ năng lượng, tạo tín hiệu và hoạt động như các thành phần cấu trúc của màng tế bào.  Lipid có ứng dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm cũng như trong công nghệ nano.

Các nhà khoa học đôi khi xác định lipid như các phân tử nhỏ kỵ nước hoặc lưỡng phân ; bản chất lưỡng tính của một số lipid cho phép chúng hình thành các cấu trúc như túi, liposome multilamellar / unilamellar hoặc màng trong môi trường nước. Lipit sinh học có nguồn gốc hoàn toàn hoặc một phần từ hai loại tiểu đơn vị sinh hóa riêng biệt hoặc "khối xây dựng": nhóm ketoacyl và isopren.  Sử dụng phương pháp này, lipit có thể được chia thành tám loại: axit béo, glycerolipids, glycerophospholipids, sphingolipids, saccharolipids và polyketide (có nguồn gốc từ ngưng tụ các tiểu đơn vị ketoacyl); và lipit sterol và lipit prenol (có nguồn gốc từ sự ngưng tụ của các tiểu đơn vị isopren).

Mặc dù thuật ngữ "lipid" đôi khi được sử dụng như một từ đồng nghĩa với chất béo, chất béo là một nhóm nhỏ của lipid được gọi là triglyceride . Lipid cũng bao gồm các phân tử như axit béo và các dẫn xuất của chúng (bao gồm tri-, di-, monoglyceride và phospholipids ), cũng như các chất chuyển hóa có chứa sterol khác như cholesterol.  Mặc dù con người và các động vật có vú khác sử dụng các con đường sinh tổng hợp khác nhau để phá vỡ và tổng hợp lipid, một số lipit thiết yếu không thể được thực hiện theo cách này và phải được lấy từ chế độ ăn uống.

Xem chi tiết

Liên kết peptide

Liên kết peptide là liên kết cộng hóa trị liên kết hai monome axit amin liên tiếp dọc theo chuỗi peptide hoặc protein.

Xem chi tiết

Liên kết kim loại

Liên kết kim loại

a. Khái niệm : là liên kết  được hình thành giữa các nguyên tử và ion kim loại trong mạng tinh thể   do sự tham gia của các e tự do.

b. Điều kiện liên kết : Xảy ra ở hầu hết các kim loại.

c. Mạng tinh thể kim loại

+ Lập phương tâm khối : Nguyên tử kim loại, ion kim loại nằm ở tâm và các đỉnh của khối lập phương.

Ví dụ : Li,Na,K,Rb,V,Cr,Fe,Nb,Mo,Ta,W,Eu

+ Lập phương tâm diện: Nguyên tử kim loại, ion kim loại nằm  ở tâm các mặt  và các đỉnh của khối lập phương.

Ví dụ : Ca,Sr,Al,Ni,Cu,Ag,Au...

+ Lục phương: Nguyên tử kim loại, ion kim loại nằm ở tâm các mặt của hình lục giác đứng và các đỉnh của hình lục giác.

Ví dụ : Be,Mg,Zn,Cd,Co,La...

d. Tính chất của tinh thể kim loại :

Mạng tinh thể kim loại có các e tự do di chuyển được trong mạng tinh thể nên kim loại có  một số  tính chất cơ bản : Ánh kim, dẫn điện tốt, dẫn nhiệt tốt và có tính dẻo.

Xem chi tiết

Liên kết hóa học

Liên kết hóa học là liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử hay trong tinh thể. Trong nhiều hợp chất đơn giản, thuyết liên kết hóa trị và khái niệm về số ôxi hóa có thể được ứng dụng để tiên đoán rất nhiều cấu trúc của ion. Tuy nhiên Thuyết liên kết hóa trị không giải thích được cấu tạo của các hợp chất phức tạp hơn như các hợp chất phức của kim loại và người ta phải cần đến các lý thuyết khác dựa trên cơ sở của hóa lượng tử như thuyết quỹ đạo phân tử.

Xem chi tiết

Liên kết hiđro

Liên kết hiđro là tương tác tĩnh điện yếu giữa phần tử hiđro mang điện tích dương với phần tử mang điện tích âm (thường là cặp electron tự do của nguyên tố có độ âm điện lớn như (F, O, N, Cl , S..)).

Điều kiện để có liên kết hiđro.
Điều kiện cần:
Trong hợp chất phải chứa H
Điều kiện đủ:
H phải liên kết trực tiếp với nguyên tố có độ âm điện lớn và trên nguyên tố có độ âm điện lớn đó phải có cặp e tự do.
Ví dụ
Cho các hợp chất H2O, NH3 , CH4 , HCHO, CH3COONH4.
Số hợp chất có liên kết hiđro là:
A.1                             B.2                         C.3                     D.4
Hướng dẫn:
CH4 & HCHO không có liên kết hiđro vì H không liên kết với các nguyên tố có độ âm điện lớn, còn CH3COONH4 tuy có H liên kết với N nhưng trên N không còn cặp electron tự do nữa,chỉ có H2O, NH3 có liên kết hiđro
Chọn B
Kết luận:
-Các axit, rượu, phenol, Aminoaxit, amin bậc một, amin bậc hai, H2O đều có liên kết hiđro.
- Các Hiđrocac bon, andehit, dẫn xuất halogel, ete, este, không tạo được liên kết

Kí hiệu
Người ta thường kí hiệu liên kết hiđro bằng dấu 3 chấm(…)

Biễu diễn liên kết hiđro
Liên kết hiđro được hình thành giữa các phân tử cùng loại.
Ví dụ 1:
Giữa các phân tử H2O, HF, rượu, axit…
Liên kết hiđro được hình thành giữa các phân tử khác loại.
Ví dụ 2:
Giữa các phân tử rượu và H2O, …
Phân loại liên kết hiđro
Người ta chia liên kết hiđro thành hai loại sau đây.
Nội phân tử và ngoại phân tử

A.Nội phân tử .
Là liên kết hiđro ngay trong phân tử đó
Điều kiện để có nội phân tử là:
Điều kiện cần:
Hợp chất phải chứa hai nhóm chức trở lên
Điều kiện đủ:
Khi tạo thành kiên kết hiđro phải tạo được vòng 5 hoặc 6 cạnh.
B.Ngoại phân tử.
Là liên kết hiđro giữa phân tử này và phân tử kia

 

Xem chi tiết

Liên kết đơn

Liên kết đơn là liên kết do sự xen phủ 2 obitan liên kết theo dọc trục liên kết.

Ví dụ: Phân tử HBr: H – Br.

Xem chi tiết

Liên kết đôi

Liên kết đôi là liên kết hóa học giữa hai nguyên tử, được tạo bởi một liên kết sigma (hay liên kết đơn) và một liên kết pi. Liên kết đôi bền và khó phá vỡ hoàn toàn hơn liên kết đơn, nhưng lại dễ tham gia phản ứng hóa học hơn do chứa liên kết pi dễ bị phá vỡ hơn liên kết sigma.

Trong hóa học hữu cơ, liên kết đôi thường thấy trong liên kết giữa hai nguyên tử C (C=C) ở anken hay ankadien hoặc liên kết C=0 ở xeton.

Xem chi tiết

Liên kết cộng hóa trị

Liên kết cộng hóa trị, còn gọi là liên kết phân tử là một liên kết hóa học được hình thành bằng việc dùng chung một hay nhiều cặp electron giữa các nguyên tử. Những cặp electron này được gọi là cặp electron dùng chung, và sự cân bằng lực hút và lực đẩy giữa các nguyên tử trong khi chia sẻ các electron được gọi là liên kết cộng hóa trị. Với nhiều phân tử, việc dùng chung electron cho phép mỗi nguyên tử đạt được cấu hình electron bền vững.

Liên kết cộng hóa trị bao gồm nhiều loại liên kết, trong đó có liên kết σ, liên kết π, liên kết kim loại, liên kết agostic, liên kết cong, liên kết tam nhị. Thuật ngữ liên kết cộng hóa trị bắt đầu được sử dụng vào năm 1939. Tiền tố co- nghĩa là cùng nhau, liên kết trong hành động, ….; do vậy, bản chất của một "liên kết hóa trị" là các nguyên tử chia sẻ “hóa trị”, như đã từng được thảo luận trong thuyết liên kết hóa trị.

Trong phân tử H2, nguyên tử hydro dùng chung hai electron thông qua liên kết cộng hóa trị.Sự cộng hóa trị là mạnh nhất giữa các nguyên tử có độ âm điện tương đương nhau. Do đó, liên kết cộng hóa trị không nhất thiết phải xảy ra giữa hai nguyên tử của cùng một nguyên tố, chỉ cần độ âm điện của chúng có thể so sánh được. Liên kết cộng hóa trị mà yêu cầu dùng chung electron với nhiều hơn hai nguyên tử được cho là bị bất định xứ.

Xem chi tiết

Liên kết ba

Liên kết ba là liên kết được hình thành do 3 cặp electron liên kết. Trong  liên kết ba có 1 liên kết σ và 2 liên kết π.

Ví dụ: Phân tử axetilen: H–C≡C–H.

Xem chi tiết

Kim loại kiềm thổ

Các kim loại kiềm thổ là một dãy các nguyên tố trong nhóm nguyên tố 2 của bảng tuần hoàn các nguyên tố. Đó là berili, magiê, canxi, stronti, bari và radi (không phải lúc nào cũng được xem xét do chu kỳ bán rã ngắn của nó).

Các kim loại kiềm thổ là các kim loại có màu trắng bạc, mềm, có khối lượng riêng thấp, có phản ứng tức thời với các nguyên tố thuộc nhóm halôgen để tạo thành các muối điện ly và với nước để tạo thành các hiđrôxít kiềm thổ mạnh về phương diện hóa học tức các bazơ (hay ba dơ). Ví dụ natri và kali có phản ứng với nước ở nhiệt độ phòng, còn magiê chỉ có phản ứng với hơi nước nóng, còn canxi thì phản ứng với nước nóng.

Các nguyên tố này chỉ có hai êlectron ở lớp ngoài cùng xs2, vì thế trạng thái năng lượng ưa thích của chúng là dễ mất đi hai êlectron này để tạo thành ion có điện tích dương 2.

Bảng so sánh

Nguyên tố

Điểm nóng chảy (K)

Điểm bốc hơi (K)

Khối lượng riêng (kg/m³)

Độ cứng

Độ dẫn điện (S/m)

Bán kính nguyên tử (nm)

Berili

1551,15

~2750

1848

5,5

31,3 · 106

0,113

Magiê

923

1380

1738

2,5

22,6 · 106

0,160

Canxi

1115

1757

1550

1,75

29,8 · 106

0,197

Stronti

1050

1655

2630

1,5

7,62 · 106

0,215

Bari

1000

1913

3620

1,25

3 · 106

0,217

Radi

973

2010

5500

?

?

?

 

 

 

Xem chi tiết

Kim loại kiềm

Các kim loại kiềm là một dãy các nguyên tố trong nhóm 1 của bảng tuần hoàn các nguyên tố, ngoại trừ hiđrô. Đó là liti, natri, kali, rubiđi, xêsi và franxi. Chúng là các nguyên tố hoạt động mạnh và ít khi tìm thấy ở dạng đơn chất trong tự nhiên.

Các kim loại kiềm là các kim loại có màu trắng bạc, mềm, có khối lượng riêng thấp, có phản ứng tức thời với các nguyên tố thuộc nhóm halôgen để tạo thành các muối điện ly và với nước để tạo thành các hiđrôxít kiềm rất mạnh về phương diện hóa học tức các bazơ. Các nguyên tố này chỉ có một êlectron ở lớp ngoài cùng, vì thế trạng thái năng lượng ưa thích của chúng là dễ mất đi một êlectron để tạo thành ion có điện tích dương 1.

Hiđrô, có một êlectron đơn độc, đôi khi được xếp vào đầu nhóm 1, nhưng nó không phải là một kim loại kiềm; nó tồn tại trong tự nhiên dưới dạng khí hai nguyên tử (phân tử). Để loại bỏ êlectron duy nhất của nó đòi hỏi tương đối nhiều năng lượng hơn việc loại bỏ êlectron ngoài cùng của các kim loại kiềm. Giống như các halôgen, chỉ một êlectron bổ sung là đủ để điền đầy lớp ngoài cùng của nguyên tử hiđrô, vì thế hiđrô có thể trong một vài điều kiện môi trường có những tính chất của một halôgen, tạo thành ion âm hiđrua. Hợp chất của hiđrô với các kim loại kiềm và một số kim loại chuyển tiếp cũng đã được tạo ra.

Dưới áp suất cực lớn, chẳng hạn như ở lõi của Mộc Tinh, hiđrô có tính kim loại và có các tính chất giống như kim loại kiềm, xem thêm hiđrô kim loại.

Các kim loại kiềm đều có liên kết kim loại yếu và đều có mạng tinh thể lập phương tâm khối

Xem chi tiết

Kim loại

Kim loại là vật thể sáng, dẻo có thể rèn được, có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao. - Trong điều kiện thường và áp suất khí quyển hầu hết các kim loại tồn tại ở trạng thái rắn (ngoại trừ thủy ngân).

      Kim loại chuyển tiếp là 68 nguyên tố hóa học có số nguyên tử từ 21 đến 30, 39 đến 48, 57 đến 80 và 89 đến 112. Nguyên nhân của tên này là do vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn vì tại đó bắt đầu sự chuyển tiếp do có thêm điện tử trong quỹ đạo nguyên tử của lớp d.

Các kim loại chuyển tiếp có đặc tính là có ứng suất căng, khối lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao. Cũng như những tính chất khác của kim loại chuyển tiếp, các tính chất này là do khả năng của các điện tử trong quỹ đạo d không có vị trí xác định trong mạng của kim loại. Các tính chất này của kim loại chuyển tiếp càng rõ khi càng có nhiều điện tử được chia sẻ giữa các hạt nhân.

Các kim loại chuyển tiếp có 4 tính chất cơ bản:

-         Tạo hợp chất có màu

-         Có thể có nhiều trạng thái ôxi hóa khác nhau

-         Là chất xúc tác tốt

-         Tạo phức chất

Kim loại thường hay kim loại cơ bản là kim loại hay hợp kim thông thường, tương đối không đắt tiền và tương đối kém hơn về một số tính chất nhất định, trái với một kim loại quý như vàng hay bạc. Một mục tiêu lâu dài của các nhà giả kim thuật là biến đổi một kim loại thường (loại thấp giá trị) thành một kim loại quý.

 

 

Xem chi tiết

Khối lượng mol phân tử

Khối lượng mol phân tử là khối lượng của 1 mol phân tử (hay của 6,022.1023 phân tử). Tổng quát khối lượng mol phân tử có thể tính bằng bất cứ đơn vị khối lượng nào cũng được, nhưng trong thực tế người ta dùng đơn vị gam. Như vậy khối lượng mol phân tử là khối lượng của 1 mol phân tử được tính bằng đơn vị gam (nên khối lượng mol phân tử còn được gọi là phân tử gam). Do đó, về hình thức khối lượng mol phân tử là khối lượng tính bằng đơn vị gam của một lượng phân tử mà có số chỉ bằng số chỉ khối lượng phân tử của phân tử đó. Về ý nghĩa, đây là khối lượng tính bằng gam của 1 mol phân tử hay của 6,022.1023 phân tử. (Từ đơn vị cacbon chuyển thành đơn vị gam thì đã tăng 6,022.1023 lần, nên khi thế đvC bằng đơn vị gam thì đó là khối lượng của 1 mol phân tử).

Thí dụ:

 H2O có khối lượng phân tử là 18 đvC

 => khối lượng mol phân tử của H2O là 18 gam. Tức 1 mol H2O (hay 6,022.1023 phân tử H2O) có khối lượng là 18 gam

=> khối lượng tính bằng gam của 1 phân tử H2O là 18/(6,022.1023) gam = 2,989.10-23 gam

Trong quá trình dạy học tôi hỏi 1 phân tử nước có khối lượng bao nhiêu đơn vị cacbon thì đa số các bạn học sinh trả lời đúng là 18 đơn vị cacbon, còn tôi hỏi tiếp 1 phân tử nước có khối lượng bao nhiêu gam thì cũng có nhiều bạn học sinh trả lời là 18 gam. Trả lời như vậy là đã sai 6,022.1023 lần (sai cả tỉ tỉ tỉ...lần)

Để tưởng tượng số Avogadro (6,022.1023) lớn như thế nào thì chúng ta làm thí nghiệm tưởng tượng như sau. Đem cân để lấy 18 gam nước, đây là khối lượng của 1 mol nước hay của 6,022.1023 phân tử nước (H2O). Lấy số phân tử H2O có trong 18 gam nước này đem rải đều khắp bề mặt trái đất (có diện tích khoảng năm trăm mười triệu cây số vuông, 510 000 000 km2 = 5,1.1018 cm2) thì bình quân mỗi cm2 bề mặt trái đất có chứa hơn một trăm ngàn phân tử H2O (6,022.1023 phân tử/5,1.1018 cm2 = 1,18.105 phân tử/cm2)

Xem chi tiết

Khối lượng mol nguyên tử (Nguyên tử gam)

Khối lượng mol nguyên tử là khối lượng của một mol nguyên tử đó (khối lượng của 6,022.1023 nguyên tử). Trên nguyên tắc, khối lượng mol nguyên tử có thể tính bằng bất cứ đơn vị khối lượng nào, như đvC, gam, kg, tấn, ... Tuy nhiên trong thực tế, khối lượng mol nguyên tử hiểu là tính theo đơn vị gam. Vì lý do đó mà khối lượng mol nguyên tử còn được gọi là nguyên tử gam. Về hình thức, khối lượng mol nguyên tử (hay nguyên tử gam) là khối lượng được tính bằng đơn vị gam mà có số chỉ bằng với số chỉ khối lượng nguyên tử của nguyên tử đó. Về ý nghĩa, khối lượng mol nguyên tử là khối lượng tính bằng đơn vị gam của 1 mol nguyên tử hay của 6,022.1023 nguyên tử đó.

Do 1 nguyên tử 12C có khối lượng 12 đvC, còn 12 gam là khối lượng của 1 mol 12C, nên khi thay đvC bằng gam thì hiểu là đã nhân lên 6,022.1023 lần. Do đó khối lượng của 1 nguyên tử H là 1 đvC còn khối lượng của 1 mol H là 1 gam

=> khối lượng tính bằng gam của 1 nguyên tử H bằng 1/(6,022.1023) gam

 => 1 đvC = 1/(6,022.1023) gam = 1,66.10-24 gam.

Thí dụ:  

Nhôm (Al) có khối lượng nguyên tử là 27 đvC thì khối lượng mol nguyên tử của Al là 27 gam. Nghĩa là 1 mol Al hay  6,022.1023 nguyên tử Al có khối lượng 27 gam. Như vậy khối lượng của 1 nguyên tử Al tính theo đơn vị gam là 27/(6,022.1023) gam = 4,48356.10-23 gam

Xem chi tiết

Khối lượng mol ion

Khối lượng mol ion là khối lượng của một mol ion hay của 6,022.1023 ion. Tương tự khối lượng mol nguyên tử, khối lượng mol phân tử, khối lượng mol ion được tính bằng đơn vị gam. Như vậy khối lượng mol ion (hay ion gam) là khối lượng tính bằng đơn vị gam của 1 mol ion (hay của 6,022.1023 ion). Về hình thức, khối lượng mol ion bằng khối lượng tính bằng gam của một lượng ion mà có số chỉ bằng số chỉ khối lượng ion của ion đó. Đây chính là khối lượng tính bằng gam của 1 mol ion hay của 6,022.1023 ion.

Thí dụ:

 SO42- có khối lượng ion là 96 đvC

=> khối lượng mol ion của SO42- là 96 gam. Nghĩa là 1 mol ion SO42- (hay 6,022.1023 ion SO42-) có khối lượng là 96 gam

 => 1 ion SO42- có khối lượng tính bằng gam là 96/(6,022.1023) gam = 1,594.10-22 gam

Xem chi tiết

Khối lượng ion

  

 Khối lượng ion là khối lượng của một ion tính bằng đơn vị cacbon. Do khối lượng của các điện tử mất đi (tao ion duơng) hay nhận vào (tạo ion âm) rất không đáng kể so với khối lượng nguyên tử nên khối lượng ion bằng tổng khối lượng của các nguyên tử tạo nên ion.

    Thí dụ:

Khối lượng của ion NH4+ bằng 1(14) + 4(1) = 18 (18 đvC; 18 u) hay 18/(6,022.1023) gam = 2,989.1023 gam

 Khối lượng của ion SO42- bằng 1(32) + 4(16) = 96 (96 đvC; 96 u) hay 96/(6,022.1023) gam = 1,594.1022 gam

Xem chi tiết

Khối lượng ion

Khối lượng ion là khối lượng của một ion tính bằng đơn vị cacbon. Do khối lượng của các điện tử mất đi (tao ion duơng) hay nhận vào (tạo ion âm) rất không đáng kể so với khối lượng nguyên tử nên khối lượng ion bằng tổng khối lượng của các nguyên tử tạo nên ion.

Thí dụ: Khối lượng của ion NH4+ bằng 1(14) + 4(1) = 18 (18 đvC; 18 u) hay 18/(6,022.1023) gam = 2,989.10-23 gam

Khối lượng của ion SO42- bằng 1(32) + 4(16) = 96 (96 đvC; 96 u) hay 96/(6,022.1023) gam = 1,594.10-22 gam

Xem chi tiết

Khí hiếm

Khí hiếm hoặc khí trơ, là nhóm các nguyên tố hóa học trong nhóm nguyên tố số 18, (trước đây gọi là nhóm 0) trong bảng tuần hoàn. Chuỗi nguyên tố hóa học này chứa heli, neon, argon, krypton, xenon, radon và oganesson (có thể không phải khí hiếm) Ngoài ra, flerovi nhóm 14 cũng thể hiện các đặc điểm giống khí hiếm. Khí hiếm trước đây được gọi là khí trơ, nhưng thuật ngữ này không chính xác một cách chặt chẽ do các nguyên tố này cũng có tham gia vào một số phản ứng hóa học nhất định.

Xem chi tiết

Khái niệm và đặc điểm hợp chất hữu cơ

Hợp chất hữu cơ: là những hợp chất của cacbon với các nguyên tố khác trừ: CO, CO2, các muối Xyanua (CN), cacbonat…

Đặc điểm của hợp chất hữu cơ:

+ Cấu tạo: Phải có nguyên tố C ngoài ra có thể có H, O, S, Cl..

+ Tính chất vật lý: rất ít tan trong H2O, chủ yếu tan trong dung môi hữu cơ.

+ Tính chất hóa học: Phản ứng của các hợp chất hữu cơ thường xảy ra chậm, không theo một hướng nhất định.

Xem chi tiết

Keo dán

Khái niệm: Keo dán là vật liệu có khả năng kết dính hai mảnh vật liệu rắn giống hoặc khác nhau mà không làm biến đổi bản chất của các vật liệu được kết dính.

Một số loại keo dán tổng hợp thông dụng

-         Nhựa vá săm: Là dung dịch đặc của cao su trong dung môi hữu cơ.

-         Keo dán epoxi: Làm từ polime có chứa nhóm epoxi

Xem chi tiết

kẽm oxit

Kẽm Oxit (công thức hóa học: ZnO, trước đây, do được dùng để làm chất màu trắng nên được gọi là kẽm trắng, hay kẽm hoa (là chất bột mịn sau khi ngưng tụ kẽm ở trang thái hơi). Hiện nay, kẽm trắng là thuật ngữ để chỉ ZnO điều chế bằng cách đốt cháy kẽm kim loại.

Xem chi tiết

Kali nitrat

Kali nitrat hay còn gọi là diêm tiêu, là hợp chất hóa học có công thức hóa học là KNO3. Trong quá khứ, con người đã sử dụng nó để làm một số loại ngòi nổ. Trong tự nhiên chỉ có một lượng nhỏ kali nitrat.

Xem chi tiết

Kali hiđrocacbonat

Kali hiđrocacbonat (công thức phân tử: KHCO3), còn gọi là kali bicacbonat hay kali axit cacbonat) là một hợp chất muối mặn, không màu, không mùi, có tính bazơ. Về phương diện vật lý, kali hiđrocacbonat xuất hiện dưới dạng một tinh thể hoặc bột dạng hạt mềm màu trắng. Kali hiđrocacbonat rất hiếm khi được tìm thấy ở dạng tự nhiên, quặng của nó gọi là kalicinite.

Xem chi tiết

Ion phức

Trong phân tử hợp chất trung hoà, theo quan niệm của hoá trị cổ điển (Hoá trị của một nguyên tố là khnăng ca mt nguyên tca nguyên tố đó có thkết hp vi bao nhiêu nguyên tca nguyên tkhác) thì các nguyên tử đã bão hoà hoá trị gọi là phân tử trung hoà, không thể kết hợp thêm nguyên tử của bất ky nguyên tố nào nữa, như SO2, SO3, KCl, H2SO4 ... Nhưng cung có những hợp chất được xem là bão hoà hoá trị như HgI2, KI, CuSO4, NH3 ... lại phản ứng với nhau tạo ra hợp chất mới.

Ví dụ: HgI2 + 2KI à K2[HgI4]

Trong dung dịch nước hợp chất này điện ly:

K2[HgI4]  2K+ + [HgI4]2-

Hoặc : CuSO4 + 4NH3 à [Cu(NH3)4]SO4

Những ion [HgI4]2-, [Cu(NH3)4]2+ và những ion tương tự được tạo thành bằng cách kết hợp các ion hay nguyên tử kim loại hoặc không kim loại với các phân tử trung hoà hoặc các anion gọi là ion phức.

Ví dụ: Pb4+ + 6Cl- = [PbCl6]2-

Xem chi tiết

Ion

Ion là tập hợp gồm một nguyên tử hay một số nguyên tử có mang điện tích.

    Ion mang điện tích dương gọi là ion dương hay cation.

    Ion mang điện tích âm gọi là ion âm hay anion.

    Ion dương được tạo ra do một nguyên tử hay một số nguyên tử đã mất bớt điện tử.

    Thí dụ: Na+; NH4+; Mg2+; Al3+; CH3NH3+; Fe2+; Fe3+

    Ion âm được tạo ra do một nguyên tử hay một số nguyên tử đã nhận thêm điện tử vào.

    Thí dụ: Cl-; OH-; SO42-; PO43-; CH3COO-

                                                                      

 

 

 

Xem chi tiết

Hydrocarbon no

Hydrocarbon no là các hydrocarbon mà các nguyên tử carbon trong phân tử của nó liên kết với nhau bằng liên kết đơn. Còn những hóa trị còn lại được bão hòa bởi các nguyên tử hydro. Hydrocarbon no bao gồm hai loại: loại thứ nhất là ankan (hay còn gọi là parafin) có công thức tổng quát là CnH2n+2 (n≥1)và loại thứ hai là cycloankan với công thức tổng quát CnH2n (n≥3).

Xem chi tiết

Hợp kim

Hợp kim là dung dịch rắn của nhiều nguyên tố kim loại hoặc giữa nguyên tố kim loại với nguyên tố phi kim. Hợp kim mang tính kim loại (dẫn nhiệt cao, dẫn điện, dẻo, dễ biến dạng, có ánh kim...).

Xem chi tiết

Hợp chất vô cơ

Hợp chất vô cơ là những hợp chất hóa học không có mặt nguyên tử cacbon, ngoại trừ khí CO, khí CO2, acid H2CO3 và các muối cacbonat, hidrocacbonat. Chúng thường được xem là kết quả của sự tổng hợp từ các quá trình địa chất, trong khi hợp chất hữu cơ thường liên quan đến các quá trình sinh học. Các nhà hóa học hữu cơ truyền thống thường xem bất kỳ phân tử nào có chứa cacbon là một hợp chất hữu cơ, và như vậy, hóa học vô cơ được mặc định là nghiên cứu về các phân tử không có cacbon.

Xem chi tiết

Hợp chất hữu cơ

Các hợp chất hữu cơ (tên tiếng Anh organic compound (cách đọc tiếng Việt o-gơ-nic com-pau-d)), là một lớp lớn của các hợp chất hóa học mà các phân tử của chúng có chứa cacbon. Các hợp chất hữu cơ có thể có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc do các phản ứng nhân tạo.

Xem chi tiết

Hợp chất

   Hợp chất là chất mà phân tử của nó gồm các nguyên tử của ít nhất hai nguyên tố hóa học tạo nên (ít nhất hai loại nguyên tử)

    Thí dụ: HCl, H2O, CH4, C2H6O, KMnO4, C6H12O6, C3H7NO2S là các hợp chất

Xem chi tiết

Hỗn hống (Amalgam)

Hỗn hống là hợp kim của thủy ngân (Hg) với kim loại khác. Thủy ngân là kim loại duy nhất hiện diện dạng lỏng ở điều kiện thường. Thủy ngân hòa tan được rất nhiều kim loại để tạo hỗn hống. Tùy thuộc vào tỉ lệ giữa thủy ngân và bột kim loại đem phối trộn mà hỗn hống thu được có thể ở dạng lỏng, sệt (nhão) hay rắn.

Hỗn hống có thể dùng làm chất khử (hỗn hống natri), dùng làm điện cực, dùng trong sự phân kim (tách vàng, bạc)... Đặc biệt hỗn hống được dùng làm vật liệu trám răng. Người ta lấy hỗn hợp bột kim loại gồm: 69,4% Ag (bạc), 3,6% Cu (đồng), 26,2% Sn (thiếc), 0,8% Zn (kẽm) (phần trăm khối lượng) đem hòa tan trong thủy ngân (Hg) để tạo hỗn hống dùng làm trám răng.

Thủy ngân chiếm khoảng 42-45% khối lượng hỗn hống này. Lúc đầu hỗn hống ở dạng sệt nên được nhét vào lỗ trống của răng cần trám. Thời gian ngắn sau, vật liệu này đông cứng lại. Hiện có nhiều tranh luận về việc dùng hỗn hống để trám răng, vì thủy ngân là chất độc đối với thần kinh.

Tuy nhiên theo các nha sĩ, hỗn hống có độ an toàn cao, có lẽ thủy ngân bị giữ chặt trong hợp kim với các kim loại nên không gây độc hại đáng kể. Và trong thực tế người ta đã dùng phương pháp trám răng này từ lâu (từ giữa thế kỷ 19 đến hiện nay).

Xem chi tiết

Hóa trị

Hóa trị của một nguyên tố được xác định bằng số liên kết hóa học mà một nguyên tử của nguyên tố đó tạo nên trong phân tử. Hóa trị của nguyên tố trong hợp chất ion được gọi là điện hóa trị, có giá trị bằng với điện tích của ion tạo thành từ nguyên tố đó. Hóa trị của nguyên tố trong hợp chất cộng hóa trị được gọi là cộng hóa trị, có giá trị bằng với số liên kết cộng hóa trị mà nguyên tử của nguyên tố đó tạo được với nguyên tử của nguyên tố khác trong hợp chất hóa học.

Khái niệm hóa trị vốn đã có trong hóa học từ giữa thế kỷ XIX. Trước đây hóa trị của nguyên tố được coi là khả năng của một nguyên tử của nguyên tố có thể kết hợp hay thay thế bao nhiêu nguyên tử hiđro hoặc bao nhiêu nguyên tử tương đương khác.

Xem chi tiết

Hóa lượng tử

Hóa lượng tử miêu tả vật chất trong thế giới hóa học trên cơ sở của Cơ học lượng tử. Về nguyên tắc có thể dùng lý thuyết này để miêu tả tất cả các hệ thống hóa học. Tuy nhiên, do sự phức tạp của việc giải Phương trình Schrödinger của Cơ học lượng tử, chỉ một số ít các hệ phân tử, nguyên tử đơn giải được nghiên cứu chi tiết. Các hệ thống phức tạp hơn được nghiên cứu qua việc giải gần đúng với các giả thiết điều kiện biên tối giản của phương trình sóng Schrodinger.

Xem chi tiết

Hiệu ứng nhà kính

Hiệu ứng nhà kính tiếng anh được gọi là Greenhouse Effect. Đây là hiệu ứng làm cho không khí của Trái đất nóng lên do bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất; mặt đất hấp thu nóng lên lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu làm cho không khí nóng lên.

Để có thể dễ hiểu hơn. chúng ta hãy liên tưởng tới những ngôi nhà kính được hấp thụ ánh mặt trời. Khi năng lượng mặt trời xuyên qua cửa nhà hoặc mái nhà bằng kính. Nguồn năng lượng này hấp thụ và phân tán thành nhiệt lượng trong không gian. Khiến toàn bộ không gian bên trong ngôi nhà ấm lên.

Khí nhà kính sẽ có tác dụng giữ lại nhiệt của Mặt Trời, không cho nó phản xạ đi. Nếu như lượng khí này tồn tại vừa phải thì sẽ giúp Trái Đất luôn ở trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, bởi hiện tượng này gia tăng quá nhiều trong bầu khí quyển nên làm cho Trái Đất nóng lên.

Nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính

Khí CO2 là nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính

Chúng ta đều biết rằng hiệu ứng nhà kính xuất phát từ việc bức xạ Mặt Trời xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất. Sau khi hấp thụ bức xạ, mặt đất nóng lên và bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu khiến nhiệt độ không khí tăng.

Theo đó, CO2 trong khí quyển giống như một tấm kính dày bao phủ Trái đất. Làm cho Trái đất không khác gì một nhà kính lớn. Theo các nhà khoa học, nếu không có lớp khí quyển, nhiệt độ trung bình ở lớp bề mặt Trái đất sẽ xuống tới -23 độ C. Nhưng nhiệt độ trung bình thực tế là 15 độ C. Có nghĩa là hiệu ứng này đã làm cho Trái đất nóng lên 38 độ C.

Mà khí CO2 càng ngày càng tăng. Bởi các hoạt động sinh hoạt, khai thác và phát triển của con người. Điển hình như các hoạt động chặt phá rừng, san rừng làm đất canh tác,… Điều này làm hiện trượng hiệu ứng nhà kính càng ngày càng tăng cao. Nhiệt độ không khí cũng theo đó mà tăng lên. Theo ước tính của các nhà khoa học, đến nửa thế kỉ sau, nhiệt độ của trái đất sẽ tăng lên khoảng 1,5 – 4,5°C.

Các khí gây hiệu ứng nhà kính khác

Ngoài CO2 ra, các khí CH4, CFC, SO2, metan, ozôn, các halogen và hơi nước cũng nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính. Cùng với sự phát triển dân số và công nghiệp với tốc độ cao cũng tác động trực tiếp tới nhiệt độ trái đất.

 

Xem chi tiết

Hiđrocacbon thơm

Hiđrocacbon thơm là hiđrocacbon trong phân tử có chứa vòng benzen trong phân tử. Hiđrocacbon thơm là loại hyđrocacbon mạch vòng có tính chất thơm mà benzen là điển hình và quan trọng nhất.

Xem chi tiết

Hiđrôcacbon không no

Hiđrôcacbon không no là hidrocacbon có chứa ít nhất một liên kết đôi trở lên trong cấu trúc phân tử của nó nhưng không có dạng mạch vòng như hidrocacbon thơm mà chỉ có dạng mạch thẳng hoặc phân nhánh. Số liên kết cộng hóa trị trong phân tử của nó gấp đôi hoặc gấp ba các nguyên tử cacbon.

Xem chi tiết

Hidroxit lưỡng tính

Hidroxit lưỡng tính là hidroxit khi tan trong nước vừa có thể phân li như axit, vừa có thể phân li như bazơ.

Thí dụ: Zn(OH)2 là hidroxit lưỡng tính

Xem chi tiết

Hạt nhân nguyên tử

Hạt nhân nguyên tử, còn được gọi tắt là hạt nhân, là cấu trúc vật chất đậm đặc (có mật độ cực lớn - ), chiếm khối lượng chủ yếu (gần như là toàn bộ) của nguyên tử. Về cơ bản, theo các hiểu biết hiện nay thì hạt nhân nguyên tử có kích thước nằm trong vùng giới hạn bởi bán kính cỡ 10−15 m, được cấu tạo từ hai thành phần sau: notron và neutron.

Xem chi tiết

Halogen

Nhóm Halogen, Các nguyên tố Halogen (tiếng Latinh nghĩa là sinh ra muối) là những nguyên tố thuộc nhóm VII A (tức nhóm nguyên tố thứ 7 theo danh pháp IUPAC hiện đại) trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Nhóm này bao gồm các nguyên tố hóa học là flo, clo, brôm, iốt, astatin và tennessine. Chúng là các nguyên tố phi kim phản ứng tạo thành các hợp chất có tính axit mạnh với hydro, từ đó các muối đơn giản có thể được tạo ra.

Xem chi tiết

Gốc hiđrocacbon

Gốc hiđrocacbon là phần còn lại của phân tử hiđrocacbon sau khi bớt đi một hay nhiều nguyên tử hiđro.

Gốc hiđrocacbon thường kí hiệu là R.

Xem chi tiết

Glucose

Glucose (còn gọi là dextrose ) là một loại monosaccarit với công thức phân tử C6H12O6 và phổ biến nhất. Glucose chủ yếu được tạo ra bởi thực vật và hầu hết các loại tảo trong quá trình quang hợp từ nước và CO2, sử dụng năng lượng từ ánh sáng mặt trời. Ở đó, nó được sử dụng để tạo ra cellulose trong thành tế bào và tinh bột.

Xem chi tiết

Giấm

Giấm là chất lỏng có vị chua có thành phần chính là dung dịch axit axetic, có công thức hóa học giấm ăn là CH3COOH. Hay nói cách khác giấm ăn là dung dịch axit axetic có nồng độ từ 2-5%. Giấm được hình thành nhờ sự lên men của rượu etylic C2H5OH.

Xem chi tiết

ESTE

Khi thay  nhóm OH ở nhóm cacboxyl của axit cacboxylic bằng nhóm OR’ thì được este

Este đơn chức  RCOOR’  Trong đó R là gốc hidrocacbon hay H; R’ là gốc hidrocacbon

Este no đơn chứcmạch hở :   CnH2nO2  ( với n2)

Danh pháp : Tên gốc R’( gốc ankyl ) + tên gốc axit RCOO   (đuôi at) 

vd:   CH3COOC2H5: Etyl axetat; CH2=CH-COOCH3 :Metyl acrylat; HCOOCH(CH3)2 : isopropylfomat,

CH3COOCH2C6H5 : benzylaxetat , CH3COOCH= CH vinylaxetat ….

Xem chi tiết

Enzim

Enzim là những chất hầu hết có bản chất protein, có khả năng xúc tác cho các quá trình hóa học, đặc biệt trong cơ thể sinh vật.

Tên của các enzim xuất phát từ tên của phản ứng hay chất phản ứng thêm đuôi aza.

Đặc điểm của xúc tác enzim: có hai đặc điểm:

-         Hoạt động xúc tác của enzim có tính chọn lọc rất cao.

-         Tốc độ phản ứng nhờ xúc tác enzim rất lớn.

Xem chi tiết

Đồng vị

Đồng vị là các biến thể của một nguyên tố hóa học, trong đó hạt nhân nguyên tử có cùng số proton nhưng có chứa số neutron khác nhau và do đó có số khối khác nhau.

Xem chi tiết

Đồng phân

Đồng phân là những hợp chất có cùng công thức phân tử nhưng khác nhau về công thức cấu tạo, dẫn tới tính chất hóa học khác nhau.

Đồng phân có 2 dạng: Đồng phân cấu tạo, đồng phân hình học

Đồng phân cấu tạo

- Đồng phân mạch các bon ( Mạch không nhánh, mạch có nhánh, mạch vòng)

- Đồng phân nhóm chức

- Đồng phân vị trí ( vị trí liên kết bội, vị trí nhóm chức)

Đồng phân hình học

- Đồng phân cis - trans

Xem chi tiết

Đồng phân

Trong hóa học, các đồng phân là các phân tử với cùng công thức hóa học tổng quát. Điều đó tương tự như việc coi chúng có công thức cấu trúc (công thức hóa học khai triển) khác nhau. Các chất đồng phân không nhất thiết có cùng tính chất hóa học trừ khi chúng có cùng nhóm chức. Không nên nhầm lẫn hiện tượng đồng phân với đồng phân hạt nhân, trong đó hạt nhân nằm ở các trạng thái kích thích khác nhau.

 

Xem chi tiết

Đồng đẳng

Đồng đẳng là cùng một dãy hợp chất có cùng công thức tổng quát nhưng hơn kém nhau một nhóm CH2.

Ví dụ: Dãy đồng đẳng của Ankan:  mêtan (CH4), êtan (C2H6), prôpan (C3H8), butan (C4H10), và pentan (C5H12)

Xem chi tiết

Đồng

Đồng là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu là Cu và số nguyên tử bằng 29, nguyên tử khối bằng 64. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Đồng nguyên chất mềm và dễ uốn; bề mặt đồng tươi có màu cam đỏ. Nó được sử dụng làm chất dẫn nhiệt và điện, vật liệu xây dựng, và thành phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau.

Xem chi tiết

Đơn chất

   Đơn chất là chất mà phân tử của nó gồm một nguyên tử hay các nguyên tử của cùng một nguyên tố hóa học (cùng một loại nguyên tử).

    Thí dụ: Ne, Na, H2, O2, O3, P, P4, S, S8, Cu, Cl2, N2, C là các đơn chất

Xem chi tiết

Độ hòa tan

Độ hòa tan là một đặc điểm hòa tan của chất rắn, chất lỏng hoặc chất khí vào dung môi để tạo ra một dung dịch đồng nhất. Độ hòa tan của một chất phụ thuộc chủ yếu vào các tính chất vật lý và hóa học của chất tan và dung môi cũng như nhiệt độ, áp suất và pH của dung dịch. Hiểu theo nghĩa rộng hơn độ hòa tan của một chất trong một dung môi nhất định được đo đạc bằng nồng độ bão hòa, bão hòa ở đây có nghĩa là việc thêm nhiều chất tan sẽ không làm tăng nồng độ của dung dịch và bắt đầu xuất hiện kết tủa của một lượng chất tan dư.

 

Xem chi tiết

Độ âm điện

Độ âm điện của một nguyên tử là khả năng hút electron của nguyên tử đó khi tạo thành liên kết hóa học. Như vậy độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng lớn thì tính phi kim nguyên tố đó càng mạnh và ngược lại, độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng nhỏ thì tính kim loại càng mạnh.

Xem chi tiết

Đisaccarit

Đisaccarit là những cacbonhiđrat khi bị thuỷ phân sinh ra 2 phân tử monosaccarit. Ví dụ : Saccarozơ công thức phân tử C12H22O11

Tính chất vật lí, trạng thái thiên nhiên:

Chất rắn kết tinh, không màu, tan tốt trong nước, nóng chảy ở nhiệt độ 185oC, có nhiều trong mía, củ cải đường.

Tính chất hoá học:

Saccarozơ không còn tính khử vì không còn -OH hemixetal tự do nên không thể chuyển sang dạng mạch hở. Vì vậy saccarozơ chỉ còn tính chất của ancol đa chức và đặc biệt có phản  ứng thuỷ phân của đisaccarit.

Xem chi tiết

Định luật bảo toàn khối lượng

Định luật bảo toàn khối lượng: “ Trong một phản ứng hóa học, tổng khối lượng của các sản phẩm bằng tổng khối lượng của các chất phản ứng”.

 Áp dụng: trong một phản ứng có n chất, nếu biết khối lượng của (n – 1) chất thì tính được khối lượng của chất còn lại.

Xem chi tiết

Định luật Avogadro (chỉ áp dụng cho chất khí hay hơi)

Định luật Avogadro (chỉ áp dụng cho chất khí hay hơi)

Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất thì các thể tích khí hay hơi bằng nhau sẽ chứa số phân tử khí hay hơi bằng nhau (hay số mol bằng nhau).

Thí dụ:   

Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí H2 có chứa 6,022.1022 phân tử H2 hay 0,1 mol H2

Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí CH4 có chứa 6,022.1022 phân tử CH4 hay 0,1 mol  CH4

Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít hơi nước (H2O) có chứa 6,022.1022 phân tử H2O hay 0,1 mol H2O

Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí heli (He) có chứa 6,022.1022 phân tử He hay 0,1 mol He

Tại sao có phân tử khí hay hơi kích thước lớn nhỏ khác nhau, mà cùng thể tích lại chứa cùng số phân tử, hơi khó hiểu.

Đáng lẽ phân tử có kích thước lớn thì số phân tử phải ít hơn, còn phân tử có kích thước nhỏ thì phải có số phân tử nhiều hơn chứ (trong cùng một thể tích bình chứa bằng nhau). Điều thắc mắc này đúng với chất lỏng hay chất rắn, vì khi ở dạng lỏng hay rắn thì các phân tử tiếp xúc nhau, nên nếu phân tử kích thước lớn thì chiếm thể tích lớn, còn phân tử kích thước nhỏ thì chiếm thể tích nhỏ, nên nếu hai thể tích bình chứa bằng nhau, bình chứa phân tử kích thước nhỏ sẽ chứa số phân tử nhiều hơn so với số phân tử có kích thước lớn. Tuy nhiên khi ở dạng khí thì các các phân tử ở cách xa nhau, khoảng cách giữa hai phân tử rất lớn so với kích thước của phân tử. Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, coi như khoảng cách trung bình giữa các phân tử khí bằng nhau, không phụ thuộc vào kích thuớc lớn hay nhỏ của phân tử, nên trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, các thể tích khí bằng nhau sẽ chứa số phân tử bằng nhau. Giống như khi để tiếp xúc nhau thì khoảng cách giữa hai trái banh tennis sẽ nhỏ, còn khoảng cách hai trái banh dùng trong bóng đá sẽ lớn. Nhưng nếu đặt hai quá banh tennis mỗi trái đặt ở một góc sân xa nhau, tương tự đặt hai trái banh bóng đá, mỗi trái đặt ở mỗi góc sân xa nhau (cùng một sân), thì coi như khoảng cách giữa hai trái banh tennis và khoảng cách giữa hai trái banh bóng đá là bằng nhau.

Trong cách nói của tiếng Việt thì khi nói “khí” hiểu là bình thường (điều kiện thường, 25ºC, 1 atm) chất này hiện diện ở dạng khí, còn khi nói “hơi” thì hiểu là bình thường chất này có thể không ở dạng khí mà ở dạng lỏng hay rắn. Thí dụ người ta nói khí hydrogen, khí cacbonic (không nói hơi hydrogen, hơi cacbonic, vì ở điều kiện thường, hydrogen, cacbonic hiện diện ở dạng khí) trong khi người ta nói hơi nước, hơi thủy ngân (không nói khí nước, khí thủy ngân, vì bình thường nước cũng như thủy ngân hiện diện chủ yếu ở dạng lỏng). Tuy nhiên khi nói hơi, hiểu là lấy dạng khí của nó.

Hệ quả của định luật Avogadro

Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, 1 mol bất kỳ khí hay hơi nào củng đều chiếm thể tích bằng nhau. Đặc biệt ở điều kiện tiêu chuẩn (0ºC, 1atm) 1 mol bất kỳ khí, hơi hay hỗn hợp khí hơi nào cũng đều chiếm thể tích bằng nhau, bằng 22,4 lít hay 22 400 mL hay 22 400 cm3.

Thí dụ:

 Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol khí CH4 chiếm thể tích 24,64 lít.

 Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol khí H2 chiếm thể tích 24,64 lít.

Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol hơi nước (H2O) chiếm thể tích 24,64 lít

Ở điều kiện tiêu chuẩn (0ºC, 1atm), 1 mol khí CH4, 1 mol khí H2, 1 mol hơi nước đều chiếm thể tích bằng nhau, đều bằng 22, 4 lít

 

Xem chi tiết

Điện tích hạt nhân

a) Proton mang điện tích 1+.

- Nếu hạt nhân có Z proton

 Điện tích hạt nhân bằng Z+.

Số đơn vị điện tích hạt nhân bằng Z.

- Ví dụ: Oxi có 8 proton

Điện tích hạt nhân oxi là 8+.

 Số đơn vị điện tích hạt nhân oxi là 8.

b) Nguyên tử trung hòa về điện: số proton bằng số electron

Z = số proton = số electron

- Ví dụ: Nguyên tử nitơ có số đơn vị điện tích hạt nhân là 7

Nguyên tử nitơ có 7 proton và 7 electron.

 

Xem chi tiết

Điện phân

I. Điện phân nóng chảy

-  Thường điện phân muối clorua của kim loại mạnh, bazơ của kim loại kiềm, hoặc oxit nhôm n (muối Halogen, Bazơ, Oxit nhôm)

II. Điện phân dung dịch. 

1. Muối của kim loại tan 

-  Điện phân dung dịch muối halogenua ( gốc –Cl, -Br …) có màng ngăn, tạo bazơ + halogen + H2

- Điện phân dung dịch muối halogen nếu không có màng ngăn, Cl2 sinh ra phản ứng với dung dịch kiềm tạo nước giaven. 
2. Muối của kim loại trung bình yếu: khi điện phân dung dịch sinh kim loại

a.   Nếu muối chứa gốc halogenua ( gốc –Cl, - Br …): Sản phẩm là KL + phi kim 

b.   Nếu muối chứa gốc có oxi: Sản phẩm là KL + Axit + O

3. Muối của kim loại tan với gốc axit có oxi, axit có oxi, bazơ tan như NaNO3, NaOH, H2SO4

Xem chi tiết

Điện hóa trị

Điện hóa trị

Là hóa trị của một nguyên tố trong hợp chất ion, tính bằng điện tích của ion đó.

Ví dụ: CaCl2 là hợp chất ion, hóa trị Canxi là 2+ , Clo là 1-

 

Xem chi tiết

Đa hình

Đa hình là hiện tượng một chất rắn hiện diện ở các dạng tinh thể khác nhau. Các tinh thể khác nhau của một chất được gọi là các dạng đa hình (polymorphs: dimorphs, trimorphs, tetramorphs,...Có thể dịch là nhị hình, tam hình, tứ hình,...). Sự biến đổi giữa dạng đa hình này thành dạng đa hình khác được gọi là sự chuyển hóa đa hình (polymorphic transformation).

Thí dụ:

 Canxi cacbonat (carbonat calcium, CaCO3) có hai dạng đa hình là calcit (calcite) và aragonit (aragonite). Titan đioxit (dioxid titan, TiO2) có ba dạng đa hình là brookit (brookite), anatas (anatase) và rutil (rutile).

Kim loại sắt (Fe) có các dạng đa hình (thù hình) là Fe-α (ferit, ferrite); Fe-γ (austenit, austenite); Fe-δ. Photpho (phosphor, P) có các dạng đa hình (thù hình) là photpho trắng, photpho đỏ và photpho đen.

Như vậy đa hình là sự hiện diện ở các tinh thể khác nhau của cùng một chất rắn (cả hợp chất lẫn đơn chất, nếu là đơn chất rắn thì đa hình cũng là thù hình)

Xem chi tiết

Dung dịch

Trong hóa học, một dung dịch là một hỗn hợp đồng nhất và chỉ có một pha. Trong một hỗn hợp như vậy, một chất tan là một chất hòa tan được trong một chất khác, được biết là dung môi. Dung môi thực hiện quá trình phân rã. Dung dịch ít nhiều đều mang các đặc tính của dung môi bao gồm cả pha của nó, và các dung môi thường chiếm phần lớn trong dung dịch. Nồng độ của một chất tan trong dung dịch là cách xác định có bao nhiêu chất tan đó hòa tan được trong dung môi.

Xem chi tiết

Dãy đồng đẳng

Trong hóa học, dãy đồng đẳng là một dãy các hợp chất (bao gồm cả hữu cơ và vô cơ) với cùng một công thức tổng quát, với các tính chất hóa học tương tự do sự hiện diện của cùng một nhóm chức, và thể hiện các tính chất vật lý biến đổi dần dần do kết quả của việc tăng kích thước và khối lượng phân tử (xem phân tử lượng tương đối). Ví dụ, êtan có điểm sôi cao hơn của mêtan, do nó có lực Van der Waals cao hơn với các phân tử bên cạnh. Điều này là do sự gia tăng trong số lượng các nguyên tử cấu thành ra phân tử. Các hợp chất trong cùng một dãy đồng đẳng khác nhau bằng một hay nhiều nhóm CH2.

Xem chi tiết

Dầu mỏ

Dầu mỏ là chất lòng sánh, màu nâu đen, không tan trong nước và nhẹ hơn nước.

– Trong tự nhiên, dầu mỏ tập trung thành những vùng lởn, ở sâu trong lòng đất, tạo thành các mỏ dầu.

–  Mỏ dầu thường có ba lớp: Lớp khí ở trên, được gọi là khí mỏ dầu hay khí đồng hành, thành phần chính của khí mỏ dầu là metan; Lớp dầu lỏng là một hỗn hợp phức tạp của nhiều loại hiđrocacbon và những lượng nhỏ các hợp chất khác; Dưới đáy mỏ dầu là một lởp nước mặn.

Xem chi tiết

Dầu mỏ

Dầu mỏ hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục. Dầu mỏ tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái Đất. Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, phần lớn là những hợp chất của hydrocarbon, thuộc gốc alkane, thành phần rất đa dạng. Hiện nay dầu mỏ chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, dầu diezen và xăng nhiên liệu.

Xem chi tiết

Cycloankan

Cycloankan hay ankan vòng là các hợp chất hữu cơ với một hay nhiều vòng cacbon trong đó các nguyên tử hiđrô được đính vào phù hợp với công thức CnH2n-2x, trong đó x là số cạnh chung cho các vòng (cạnh chung chỉ tính một lần). Do vậy các cycloankan vòng đơn có công thức tổng quát CnH2n do không có cạnh nào chung. Các cycloankan với vòng đơn được đặt tên tương tự như các ankan thông thường của chúng với cùng một số lượng nguyên tử cacbon: cycloprôpan, cyclobutan, cyclopentan, cyclohexan,… Các cycloankan lớn hơn, với số nguyên tử cacbon trên 20 thông thường gọi là cycloparafin.

Xem chi tiết

Công thức hóa học

Công thức hóa học dùng để biểu diễn chất, gồm một hay nhiều kí hiệu hóa học và chỉ số ở chân mỗi kí hiệu hóa học

Công thức hóa học của đơn chất

Tổng quát:  Ax 

Với A là kí hiệu hóa học của nguyên tố.

X là chỉ số, cho biết 1 phân tử của chất gồm mấy nguyên tử A.

* Với kim loại x = 1 ( không ghi ) – ví dụ: Cu, Zn, Fe, Al, Mg, …

* Với phi kim; thông thường x = 2. ( trừ C, P, S có x = 1 ) 

Ví dụ: khí hidro là H2, khí oxi là O2

 

 Công thức hóa học của hợp chất

             Tổng quát:  AxByCz …

Với A, B, C… là KHHH của các nguyên tố.

x, y, z …là số nguyên cho biết số nguyên tử  của A, B, C…

Ví dụ: 

STT

Tên chất

Công thức Hóa Học

 

STT

Tên chất

Công thức Hóa Học

1

Nước

H2O

 

6

Kẽmclorua

ZnCl2

2

Muối ăn (Natriclorua)

NaCl

 

7

Khí Metan

CH4

3

Canxicacbonat –(đá vôi)

CaCO3

 

8

Canxioxit (vôi sống)

CaO

4

Axit sunpuric

H2SO4

 

9

Đồng sunpat

CuSO4

5

Amoniac

NH3

 

10

Khí cacbonic

CO2

Ý nghĩa của công thức hóa học

Công thức Hóa Học cho chúng ta biết rất nhiều thông tin về chất như:

1. Nguyên tố nào tạo nên chất.

2. Số nguyên tử mỗi nguyên tố có trong một phân tử chất.

3. Phân tử khối của chất.

Chú ý:

2H2O: 2 phân tử nước.

H2O: có 3 ý nghĩa :

·         Do nguyên tố H và O tạo nên.

·         Có 2 H & 1O trong một phân tử nước(có 2H liên kết với 1O)- nếu nói trong phân tử H2O có phân tử hidro là sai

·         Phân tử khối của nước là 2x1 + 16 = 18 (đvC)   

 

 

 

Xem chi tiết

Cộng hóa trị

Cộng hóa trị :

Là hóa trị của một nguyên tố trong hợp chất cộng hóa trị, tính bằng số liên kết mà nguyên tử của nguyên tố đó có thể tạo thành với nguyên tử của nguyên tố khác.

Ví dụ: CH4 là hợp chất cộng hóa trị, hóa trị của Cacbon là 4, Hidrô là 1.

Xem chi tiết

Chuẩn độ ngược là gì?

Trong chuẩn độ ngược, chúng tôi sử dụng hai thuốc thử – Thuốc thử đầu (A) phản ứng với mẫu cần phân tích và thuốc thử thứ hai (B) phản ứng với  thuốc thử đầu tiên.

 

Đầu tiên, đo chính xác một lượng dư thuốc thử A và cho vào mẫu phân tích.. Sau khi phản ứng kết thúc, lượng thuốc thử A dư còn lại sau đó được chuẩn độ ngược với thuốc thử thứ hai B. Hiệu của lượng thuốc thử thứ nhất và thứ hai thêm vào chính là lượng chất cần phân tích. Chuẩn độ ngược được sử dụng chủ yếu trong các trường hợp phản ứng chuẩn độ của chuẩn độ trực tiếp quá chậm hoặc chỉ thị trực tiếp của điểm tương đương không đáp ứng yêu cầu. Ví dụ, để xác định hàm lượng canxi bằng thuốc thử EDTA (A) và ZnSO4 (B)

Chuẩn độ ngược

Xem chi tiết

Chuẩn độ là gì? Khái niệm chuẩn độ?

Chuẩn độ là kỹ thuật phân tích cho phép xác định định lượng một chất hòa tan (chất cần phân tích) trong mẫu. Kỹ thuật này dựa trên phản ứng hoàn toàn của chất cần phân tích và một thuốc thử (dung dịch chuẩn độ) với nồng độ đã biết, được thêm từ từ vào mẫu:

Chất cần phân tích + Thuốc thử (Dung dịch chuẩn độ) = Sản phẩm của phản ứng

Một ví dụ điển hình là việc chuẩn độ axit acetic (CH3COOH) trong giấm với Natri Hydroxide NaOH:

CH3COOH + NaOH → CH3COO- + Na+ + H2O

Dung dịch chuẩn độ được thêm vào đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn. Để xác định được, điểm kết thúc của phản ứng chuẩn độ cần phải dễ quan sát. Điều này nghĩa là phản ứng phải được giám sát (biểu thị) bởi một kỹ thuật phù hợp, vd. phép đo điện thế (đo điện thế bằng điện cực) hoặc các chất chỉ thị màu. Phép đo thể tích đã dùng của dung dịch chuẩn độ cho phép tính toán lượng chất cần phân tích dựa trên cân bằng hóa học của phản ứng. Phản ứng liên quan đến chuẩn độ phải diễn ra nhanh, hoàn toàn, không nhập nhằng và quan sát được.

 

Xem chi tiết

Chuẩn độ axit-bazơ

Chuẩn độ axit-bazơ là phân tích định lượng dùng để xác định nồng độ của dung dịch axit hoặc bazơ chưa biết bằng cách thêm các lượng nhất định dung dịch chuẩn độ là bazơ hoặc axit để trung hòa chất thử chuẩn.

Xem chi tiết

Chất ưa nước

Chất ưa nước là những chất tan tốt trong nước như: metanol, etanol, axit axetic, muối axetat kim loại kiềm,...

Xem chi tiết

Chất tẩy màu

Chất tẩy màu làm sạch các vết màu bẩn nhờ những phản ứng hóa học. Thí dụ: nước Gia-ven, nước clo oxi hóa chất màu thành chất không màu; SO2 khử chất màu thành chất không màu. Chất giặt rửa, như xà phòng làm sạch các vết bẩn không phải nhờ những phản ứng hóa học

Xem chi tiết

Chất kị nước

Chất kị nước là chất hầu như không tan trong nước như: hiđrocacbon, dẫn xuất halogen,... Chất kị nước lại ưa dầu mỡ, tức là tan tốt trong dầu mỡ. Chất ưa nước thì thường kị dầu mỡ, tức là không tan trong dầu mỡ.

Xem chi tiết

Chất khử (Chất bị oxi hóa, Chất bị oxid hóa)

Chất khử là chất cho điện tử được hay là chất có số oxi hóa tăng sau phản ứng. Chất khử sau khi cho điện tử sẽ tạo thành chất oxi hóa tương ứng. Do đó, chất khử còn được gọi là chất bị oxi hóa.
Thí dụ: Zn, Fe, Al
Chất khử càng mạnh khi càng dễ cho điện tử.
Cách nhớ: Khử cho, 
O nhận (Chất khử cho điện tử, chất oxi hóa nhận điện tử).

Xem chi tiết

Chất không điện li

Chất không điện li : Là những chất mà dung dịch không dẫn điện được.

Thí dụ : dung dịch rượu etylic, dung dịch đường saccarozơ...là những dung dịch không dẫn điện. Rượu etylic, đường saccarozơ... là những chất không điện li.

Xem chi tiết

Chất giặt rửa tổng hợp

Chất giặt rửa tổng hợp không phải là muối natri của axit cacboxylic nhưng có tính năng giặt rửa giống như xà phòng. Điều này giúp hạn chế việc khai thác dầu, mỡ động vật, thực vật vào việc sản xuất xà phòng.

Thành phần chính của chất giặt rửa tổng hợp có thể là: ROSO3Na: natri ankyl sunfat; RC6H4SO3Na: natri ankyl benzen sunfonat

Xem chi tiết

Chất giặt rửa

Chất giặt rửa là những chất khi dùng cùng với nước thì có tác dụng làm sạch các chất bẩn bám trên vật rắn mà không gây ra phản ứng hóa học với các chất đó.

Xem chi tiết

Chất điện li

Chất điện li là những chất tan trong nước tạo thành dung dịch dẫn điện được.

 Vậy : Muối, bazơ và axit thuộc loại chất điện li.

Xem chi tiết

Chất dẻo

Chất dẻo là những chất liệu polime có tính dẻo.

Xem chi tiết

Chất bán dẫn

Chất bán dẫn (tiếng Anh: Semiconductor) là chất có độ dẫn điện ở mức trung gian giữa chất dẫn điện và chất cách điện. Chất bán dẫn hoạt động như một chất cách điện ở nhiệt độ thấp và có tính dẫn điện ở nhiệt độ phòng. Gọi là "bán dẫn" (chữ "bán" theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là một nửa), vì chất này có thể dẫn điện ở một điều kiện nào đó, hoặc ở một điều kiện khác sẽ không dẫn điện. Tính bán dẫn có thể thay đổi khi có tạp chất, những tạp chất khác nhau có thể tạo tính bán dẫn khác nhau. Trường hợp hai chất bán dẫn khác nhau được gắn với nhau, nó tạo ra một lớp tiếp xúc. Các tính chất của các hạt mang điện như electron, các ion và lỗ trống điện tử trong lớp tiếp xúc này là cơ sở để tạo nên diot, bóng bán dẫn và các thiết bị điện tử hiện đại ngày nay.

Xem chi tiết

Chất

Định nghĩa Chất là một dạng của vật thể, chất tạo nên vật thể. Ở đâu có vật thể là ở đó có chất.

 Mỗi chất có những tính chất nhất định, nhưng phân loại chung thì chất thường có tính chất vật lý và tính chất hóa học.

a) Tính chất vật lí:
Phân biệt các chất thông qua các chỉ số như: Trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan trong nước, nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy, tính dẫn điện, dẫn nhiệt, khối lượng riêng …

b) Tính chất hoá học:
Chính là khả năng biến đổi từ chất này thành chất khác: ví dụ khả năng bị phân huỷ, tính cháy được…

 Để biết được tính chất của chất ta phải: Quan sát, dùng dụng cụ đo, làm thí nghiệm…

Việc nắm tính chất của chất giúp chúng ta:

- Phân biệt chất này với chất khác (nhận biết các chất).

- Biết cách sử dụng chất.

- Biết ứng dụng chất thích hợp trong đời sống và sản xuất;

+ Chất nguyên chất = Chất tinh khiết là chất không lẫn các chất khác, có tính chất vật lí và hoá học nhất định.

+ Hỗn hợp gồm hai hay nhiều chất trộn  vào nhau, có tính chất thay đổi ( phụ thuộc vào thành phần của hỗn hợp).

Để tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp, ta có thể dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lí của chúng; - Tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp = pp vật lý thông thường : lọc, đun, chiết, nam châm …

 

Xem chi tiết

Cấu tạo bảng tuần hoàn

a. Ô nguyên tố:

Số thứ tự của ô nguyên tố đúng bằng số hiệu nguyên tử của nguyên tố đó .

b.Chu kỳ: Chu kỳ là dãy các nguyên tố mà nguyên tử của chúng có cùng số lớp electron, được xếp theo chiều điện tích hạt nhân tăng dần. Số thứ tự của chu kỳ trùng với  số  lớp  electron  của nguyên tử các nguyên tố trong chu kỳ đó.

* Chu kỳ nhỏ: gồm chu kỳ 1, 2, 3.

* Chu kỳ lớn : gồm chu kỳ 4, 5, 6, 7.

c. Nhóm nguyên tố: là tập hợp các nguyên tố mà nguyên tử có cấu hình electron tương tự nhau , do đó có tính chất hóa học gần giống nhau và được xếp thành một cột.

d. Khối các nguyên tố:

* Khối các nguyên tố s : gồm các nguyên tố nhóm IA và IIA

Nguyên tố s là những nguyên tố mà nguyên tử có electron cuối cùng được điền vào phân lớp s.

* Khối các nguyên tố p: gồm các nguyên tố thuộc các nhóm từ IIIA đến VIIIA ( trừ He).

Nguyên tố p là những nguyên tố mà nguyên tử có electron cuối cùng được điền vào phân lớp p.

*Khối các nguyên tố d : gồm các nguyên tố thuộc nhóm B.

Nguyên tố d là các nguyên tố mà nguyên tử có electron cuối cùng được điền vào phân lớp d.

* Khối các nguyên tố f: gồm các nguyên tố thuộc họ Lantan và họ Actini.  Nguyên  tố  f là  các nguyên tố mà nguyên tử có electron cuối cùng được điền vào phân lớp f.

Xem chi tiết

Cao su tổng hợp

Cao su tổng hợp là chất dẻo được con người chế tạo với chức năng là chất co giãn. Một chất co giãn là vật chất có đặc tính cơ học là chịu được sức ép thay đổi hình dạng hơn phần lớn các vật chất khác mà vẫn phục hồi hình dạng cũ. Cao su tổng hợp được dùng thay thế cao su tự nhiên trong rất nhiều ứng dụng, khi mà những đặc tính ưu việt của nó phát huy tác dụng.

Xem chi tiết

Cao su thiên nhiên

Cao su thiên nhiên là cao su được lấy từ mủ cây cao su.

Xem chi tiết

Cao su

Cao su là vật liệu polime có tính đàn hồi.

Xem chi tiết

canxi oxit

Canxi oxit (công thức CaO, còn được biết đến với tên gọi canxia, các tên gọi thông thường khác là vôi sống, vôi nung) là một oxit của canxi, được sử dụng rộng rãi. Nó có khối lượng mol bằng 56,1 g/mol, hệ số giãn nở nhiệt 0,148; nhiệt độ nóng chảy 2572 °C.

Nó là chất rắn có dạng tinh thể màu trắng và là một chất ăn da và có tính kiềm. Như là một sản phẩm thương mại thì vôi sống có chứa lẫn cả magie oxit (MgO), silic oxit SiO2 và một lượng nhỏ nhôm oxit Al2O3 và các sắt(II) oxit FeO.

Xem chi tiết

Canxi hydroxit

Canxi hydroxit là một hợp chất hóa học với công thức hóa học Ca(OH)2. Nó là một chất dạng tinh thể không màu hay bột màu trắng, và thu được khi cho Canxi ôxít (CaO, tức vôi sống) tác dụng với nước (gọi là tôi vôi). Nó cũng có thể kết tủa xuống khi trộn dung dịch chứa Canxi clorua (CaCl2) với dung dịch chứa Natri hiđroxit (NaOH). Tên gọi dân gian của canxi hiđroxit là vôi tôi hay đơn giản chỉ là vôi. Tên gọi của khoáng chất tự nhiên chứa canxi hiđroxit là portlandit.

Nếu bị nung nóng tới 512 °C, thì canxi hiđroxit bị phân hủy thành ôxít canxi và hơi nước. Thể vẩn của các hạt hyđroxyt canxi rất mịn trong nước gọi là vôi sữa. Dung dịch chứa canxi hiđroxit gọi chung là vôi nước và có tính bazơ trung bình - mạnh, có phản ứng mạnh với các axít và ăn mòn nhiều kim loại khi có mặt nước. Nó trở thành dạng sữa nếu điôxít cacbon đi qua đó, do sự kết tủa của canxi cacbonat mới tạo ra.

Xem chi tiết

Cân bằng hóa học

- Là trạng thái của phản ứng thuậ nghịch, ở đó trong cùng một đơn vị thời gian có bao nhiêu phân tử chất sản phẩm được hình thành từ những chất ban đầu thì có bấy nhiêu phân tử chất sản phẩm phản ứng với nhau để tạo thành chất ban đầu. Trạng thái này của phản ứng thuận nghịch được gọi là cân bằng hóa học.

- Cân bằng hóa học là trạng thái của phản ứng thuận nghịch khi tốc độ phản ứng thuận bằng tốc độ phản ứng nghịch.




Xem chi tiết

Cân bằng hoá học

Cân bằng hoá học là trạng thái của phản ứng thuận nghịch khi tốc độ phản ứng thuận bằng tốc độ phản ứng nghịch.

Xem chi tiết

Cách xác định độ mạnh, yếu của axit

- Dựa vào sự linh động của nguyên tử Hydro trong axit đó. Nếu H càng linh động, tính axit càng mạnh và ngược lại.

- Với những axit có oxy trong cùng một nguyên tố, càng ít oxy, axit càng yếu

HClO4 > HClO3> HClO2> HClO

- Với những axit của nguyên tố trong cùng chu kỳ, khi các nguyên tố ở hóa trị cao nhất, nguyên tố trung tâm có tính phi kim càng yếu thì axit đó càng yếu.

HClO4> H2SO4> H3PO4

- Với axit của nguyên tố cùng nhóm A

+ Axit có oxy: Tính axit tăng dần từ dưới lên: HIO4 < HbrO4< HClO4

+ Axit không có oxy: Tính axit giảm dần từ dưới lên: HI > HBr> HCl> HF

- Với axit hữu cơ RCOOH

+ Nếu R đẩy electron (gốc R no) thì tính axit giảm

HCOOH> CH3COOH> CH3CH2COOH> CH3CH2CH2COOH> n-C4H9COOH.

+ Nếu R hút e (gốc R không no, thơm hoặc có nguyên tố halogen,…), tính axit sẽ mạnh

 

Xem chi tiết

CACBOHIDRAT

Cacbohidrat là những hợp chất hữu cơ tạp chức và thường có CTC : Cn(H2O)m

Cacbohidrat chia làm 3 loại chủ yếu :

+ Monosaccarit là nhóm không bị thủy phân (glucozơ & fuctozơ).

+ Đisaccarit là nhóm mà khi thủy phân mỗi phân tử sinh ra 2 phân tử monosaccarit (vd : Saccarozơ 1 Glu & 1 Fruc …).

+ Polisaccarit là nhóm mà khi thủy phân đến cùng mỗi phân tử sinh ra nhiều phân tử monosaccarit(vd : tinh bột , xenlulozơ à nhiều phân tử Glucozơ ).

Xem chi tiết

Butađien

Butađien là chất khí, isopren là chất lỏng (nhiệt độ sôi = 34o C). Cả 2 chất đều không tan trong nước, nhưng tan trong một số dung môi hữu cơ như: rượu, ete.

Xem chi tiết

Benzen

Benzen (tên khác: PhH, hoặc benzol) là một hợp chất hữu cơ có công thức hoá học C6H6. Benzen là một hyđrocacbon thơm, trong điều kiện bình thường là một chất lỏng không màu, mùi dịu ngọt dễ chịu, dễ cháy. Benzen tan rất kém trong nước và rượu. Benzen cũng có khả năng cháy tạo ra khí CO2 và nước, đặc biệt có sinh ra muội than.

Xem chi tiết

Bazơ

Bazơ (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp base /baz/), có công thức hoá học chung là B(OH)x.Một định nghĩa phổ biến của bazơ theo Svante Arrhenius là một hợp chất hóa học hoặc là cung cấp các ion hiđrôxít hoặc là hấp thụ các ion hiđrô khi hòa tan trong nước. Các bazơ và các axít được nói đến như là các chất ngược nhau vì hiệu ứng của axit là tăng nồng độ ion hydroni (H3O+) trong nước, còn bazơ thì làm giảm nồng độ của ion này. Các bazơ theo Arrhenius là những chất hòa tan trong nước và có pH lớn hơn 7 khi ở trong dung dịch.Bazơ là hợp chất mà phân tử có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hidroxit (-OH).

Xem chi tiết

bari hydroxit

Bari hydroxit là hợp chất hóa học với công thức hóa học Ba(OH)2(H2O)x. Chất ngậm nước đơn (x =1) được biết đến với tên baryta, là một trong những hợp chất chính của bari. Hạt monohydrat trắng này là dạng thương mại chính của bari hydroxit.

Xem chi tiết

Bảo toàn khối lượng

Định luật bảo toàn khối lượng hay định luật Lomonosov - Lavoisier là một định luật cơ bản trong lĩnh vực hóa học, được phát biểu như sau: Trong phản ứng hóa học, tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng các sản phẩm tạo thành.

Xem chi tiết

Bán kính nguyên tử

Bán kính nguyên tử của một nguyên tố hóa học là kích thước nguyên tử của nguyên tố đó, thường là khoảng cách trung bình tính từ tâm của hạt nhân nguyên tử đến ranh giới ngoài cùng của đám mây electron. Vì ranh giới này không phải là một thực thể vật lý được xác định rõ ràng, nên có nhiều định nghĩa không tương đồng về bán kính nguyên tử. Ba định nghĩa được sử dụng phổ biến về bán kính nguyên tử là bán kính Van der Waals, bán kính ion, và bán kính cộng hóa trị tương ứng với 3 kiểu liên kết hóa học.

Xem chi tiết

Axit silixic

Axit silixic

- H2SiO3 là chất ở dạng keo, không tan trong nước. Khi mất một phần nước tạo thành vật liệu xốp là silicagen. Dùng để hút hơi ẩm trong các thùng đựng hàng hóa.

- Axit silixic là axit yếu, yếu hơn cả axit cacbinic nên bị axit này đẩy ra khỏi dung dịch muối.

Xem chi tiết

Axit nucleic

Axit nucleic là polieste của axit photphoric và pentozơ (monosaccarit có 5C); mỗi pentozơ lại liên kết với một bazơ nitơ (đó là các hợp chất dị vòng chứa nitơ được kí hiệu là A, X, G, T, U).

Axit nucleic là thành phần quan trọng nhất của nhân tế bào và loại polime này có tính axit.

Axit nucleic thường tồn tại dưới dạng kết hợp với protein gọi là nucleoprotein. Axit nucleic có hai loại được kí hiệu là ADN và ARN.

Xem chi tiết

Axit clohydric

Axit clohydric (bắt nguồn từ tiếng Pháp acide chlorhydrique) hay axit muriatic là một axit vô cơ mạnh, tạo ra từ sự hòa tan của khí hydro clorua (HCl) trong nước. Ban đầu, axit này được sản xuất từ axit sulfuric và muối ăn vào thời Phục Hưng, thậm chí từ thời Trung Cổ, sau đó được các nhà hóa học Glauber, Priestley và Davy sử dụng trong các nghiên cứu khoa học của họ. Axit clohydric được tìm thấy trong dịch vị, và cũng là một trong những yếu tố gây bệnh loét dạ dày khi hệ thống tự bảo vệ của dạ dày hoạt động không hiệu quả.

Xem chi tiết

Axit cacbonic

Axit cacbonic là axit rất yếu và kém bền, chỉ tồn tại trong dung dịch loãng, dễ bị phân hủy thành CO2 và H2O.

Xem chi tiết

Axit béo

Axit béo là axit cacboxylic với một đuôi không vòng (chuỗi), và có thể là no hoặc không no. Hầu hết các axit béo trong tự nhiên bao gồm một chuỗi các số chẵn của các nguyên tử carbon, từ 12 tới 28. Axit béo thường có nguồn gốc từ triglyceride hoặc phospholipid.

Xem chi tiết

Axit

 

Axit là một hợp chất hóa học có công thức HxA, có vị chua và tan được trong nước để tạo ra dung dịch có nồng độ pH < 7. Độ pH càng lớn thì tính axit càng yếu và ngược lại.

Ngoài ra, còn một cách định nghĩa axit là gì khác như sau “ axit là các phân tử hay ion có khả năng nhường proton H+ cho bazo hoặc nhận các cặp electron không chia từ bazo”.

Có những loại axit nào?

Dựa vào tính chất hóa học của axit

- Axit mạnh: Axit clohydric HCl, axit sulfuric H2SO4, axit nitric HNO3,…

- Axit yếu: Hydro sunfua H2S, axit cacbonic H2CO3,…

Dựa vào nguyên tử oxy

- Axit không có oxi:  HCl, H2S, HBr, HI, HF…

- Axit có oxi: H2SO4, HNO3, H3PO4, H2CO3

Ngoài ra, ta còn có thể phân chia axit theo như các dạng dưới đây:

- Axit vô cơ: HCl, H2SO4, HNO3,…

- Axit hữu cơ – RCOOH: CH3COOH, HCOOH,…


Xem chi tiết

Ankadien

Ankadien, Dien hay Diolefin là tên gọi của các hiđrôcacbon không no, mạch hở có 2 liên kết nối đôi trong phân tử. Công thức chung của dãy đồng đẳng Ankadien là: CnH2n-2 (n ≥ 3)

Xem chi tiết

Ancol

Ancol, còn gọi là rượu, trong hóa học là một hợp chất hữu cơ chứa nhóm -OH gắn vào một nguyên tử cacbon mà đến lượt nó lại gắn với một nguyên tử hydro hay cacbon khác.

Trong đời sống thông thường, từ ancol được hiểu như là những đồ uống có chứa cồn, (cồn (etanol) hay ancol etylic) (C2H5OH).

Theo cấu trúc

Có các loại ancol mạch thẳng và ancol mạch nhánh, vòng

Theo liên kết cacbon

Có các loại ancol no và ancol không no

Ví dụ: CH3-CH2-OH là ancol no và CH2=CH-CH2-OH là ancol không no.

Theo chức ancol

Có ancol đơn chức và ancol đa chức

Ví dụ: CH3-CH2-OH (etanol) là ancol một lần ancol còn OH-CH2-CH2-OH (etylen glycol) là ancol hai lần ancol.

Lưu ý là một số tài liệu cho rằng phenol C6H5OH là một dạng ancol, tuy nhiên phenol có một số tính chất hóa học khác hẳn tính chất hóa học chung của ancol và một số nhà khoa học đã xếp phenol và các dãy đồng đẳng của nó vào nhóm phenol do các chất này thể hiện tính axit rõ rệt. Ví dụ phenol có phản ứng với chất bazơ như NaOH còn ancol thì không có phản ứng như thế.

Xem chi tiết

Ăn mòn kim loại

Ăn mòn kim loại là sự phá hủy kim loại hoặc hợp kim do tác dụng của các chất trong môi trường.

Xem chi tiết

Ăn mòn kim loại

Ăn mòn kim loại là sự phá hủy kim loại hoặc hợp kim do tác dụng của các chất trong môi trường.

Xem chi tiết

Ăn mòn hóa học

Ăn mòn hóa học thường xảy ra ở những bộ phận của thiết bị lò đốt hoặc những thiết bị thường xuyên phải tiếp xúc với hơi nước và khí oxi,...

Xem chi tiết

Ăn mòn hóa học

Ăn mòn hóa học thường xảy ra ở những bộ phận của thiết bị lò đốt hoặc những thiết bị thường xuyên phải tiếp xúc với hơi nước và khí oxi,...

Xem chi tiết

Ăn mòn điện hóa học

Ăn mòn điện hóa học là quá trình oxi hóa - khử, trong đó kim loại bị ăn mòn do tác dụng của dung dịch chất điện li và tạo nên dòng electron chuyển dời từ cực âm đến cực dương.

Xem chi tiết

Amoniac lỏng

- Amoniac lỏng là một hợp chất vô cơ có công thức hóa học là NH3. Ở điều kiện tiêu chuẩn đây là một chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước, ở dạng dung dịch NH4OH là một dung dịch bazo yếu, phân hủy thành khí NH3 và nước.

- Amoniac sôi ở nhiệt độ - 33,34 độ C ở áp suất của một bầu khí quyển, do đó amoniac được bảo quản dưới áp xuất hoặc ở nhiệt độ thấp. Đóng băng ở nhiệt độ -77,7 độ C cho tinh thể màu trắng. 

- Amoniac lỏng công nghiệp thường là 28% NH3 trong nước và được chứa trong bồn bỏng vận chuyển bằng xe ô tô hoặc bình chứa.

Xem chi tiết

Amoniac

Dung dịch amoniac, còn được gọi là nước amoniac, amoni hydroxit, rượu ammoniacal, amoniac nước, hoặc (không chính xác) amoniac, là một dung dịch amoniac trong nước. Nó có thể được biểu thị bằng ký hiệu NH3(aq). Mặc dù tên amoni hydroxit có tính chất kiềm với thành phần [NH4+][OH], nó là thực sự không thể tách các mẫu NH4OH. Các ion NH4+ và OH không chiếm một phần đáng kể trong tổng lượng amoniac ngoại trừ trong các dung dịch cực kỳ loãng.

Xem chi tiết

Aminoaxit

Aminoaxit là những hợp chất hữu cơ tạp chức, phân tử chứa đồng thời nhóm amino (NH2) và nhóm cacboxyl (COOH).

Xem chi tiết

Amin

Amin (còn được viết là amine) là hợp chất hữu cơ có nguyên tử gốc là nitơ (đạm khí) trong nhóm chức. Những amin có cấu hình tương tự amoniac (ammonia), nhưng trong đó một (hay một số) nguyên tử hyđrô được thay bằng nhóm alkyl hay loại nhóm chức khác chứa cacbon (nhóm R).

Bậc của amin chính là số nguyên tử hyđrô được thay thế. Thay thế 1, 2 hoặc 3 nguyên tử hyđrô, lần lượt ta có amin bậc 1 (primary amine), amin bậc 2 (secondary amine) và amin bậc 3 (tertiary amine).

Khi một hợp chất có nhiều nhóm amin, nó được gọi là diamin, triamin, tetraamin...

Còn nếu nhóm amin liên kết với vòng benzen, chúng ta có hợp chất amin thơm. Hợp chất đơn giản nhất của dãy amin thơm là anilin.

Các amin thấp như các metylamin và etylamin là những chất khí, có mùi gần giống amoniac. Các amin bậc cao hơn là những chất lỏng, có một số là chất rắn.

 

 

Xem chi tiết

Aldehyde

Aldehyde, hay aldehyd, an-đê-hít, là hợp chất trong hóa hữu cơ có nhóm chức cacbaldehyd: R-CHO. Tên aldehyd (aldehyde) gốc từ tiếng La Tinh alcohol dehydrogenatus có nghĩa: rượu đã được khử hyđrô.

Xem chi tiết

Acetylen

Axetylen (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp acétylène /asetilɛn/), còn được viết là a-xê-ty-len (tên hệ thống: ethyne) là hợp chất hóa học với công thức C2H2. Nó là một hydrocarbon và là alkin đơn giản nhất. Chất khí không màu này được sử dụng rộng rãi làm nhiên liệu và tổng hợp các hợp chất khác. Nó không ổn định ở dạng tinh khiết và do đó thường được để trong một dung dịch. Acetylene tinh khiết không mùi, nhưng loại phổ biến trên thị trường thường có mùi do tạp chất.

Xem chi tiết

Phân phức

 Phân phức hợp là hỗn hợp các chất được tổng hợp trực tiếp bằng tương tác hóa học. Phân phức hợp còn được sản xuất bằng cách hóa hợp (phân hóa hợp). Loại phân này các dinh dưỡng được hóa hợp theo các phản ứng hóa học.

Xem chi tiết